HẢI QUAN BÌNH DƯƠNG: TẬP HUẤN THỦ TỤC HẢI QUAN CHO LÃNH ĐẠO DN NHẬT BẢN

(HQ Online)-Ngày 4/5, Cục Hải quan Bình Dương phối hợp với Chi hội doanh nghiệp (DN) Nhật Bản tại Bình Dương tổ chức hội nghị tập huấn về thủ tục hải quan, chính sách thuế XNK… cho lãnh đạo DN Nhật Bản đầu tư tại Bình Dương. 

Lãnh đạo Cục Hải quan Bình Dương giải đáp thắc mắc của DN tại hội nghị. Ảnh T.D

Phó Cục trưởng Cục Hải quan Bình Dương Nguyễn Trường Giang cho biết, đây là một hoạt động nhằm đổi mới công tác đối thoại DN. Qua hội nghị này, sự tương tác giữa cơ quan Hải quan và lãnh đạo DN được nhiều hơn. Chủ DN sẽ được trực tiếp nghe giải đáp những vướng mắc về cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến thủ tục XNK… để thực hiện theo đúng quy định.

Tại hội nghị, đại diện Cục Hải quan Bình Dương đã phổ biến đến lãnh đạo các DN về các quy định, chính sách liên quan đến thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan; Lưu ý về các vướng mắc mà DN thường gặp phải có liên quan đến thuế XNK đối với hàng hóa gia công, sản xuất xuất khẩu trong thời gian qua; Quy định về cấp danh mục miễn thuế hàng hóa tạo tài sản cố định; Các quy định chung về phân tích, phân loại hàng hóa…

Chi cục kiểm tra sau thông quan cũng đã trình bày về một số quy định cũng như chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp thuộc diện doanh nghiệp ưu tiên. Một số lưu ý đối với doanh nghiệp trong việc sử dụng chữ kí số, cảnh báo một số sai phạm của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan tại Bình Dương để doanh nghiệp rút kinh nghiệm không để vướng phải… Phó Cục trưởng Cục Hải quan Bình Dương Nguyễn Trường Giang nhấn mạnh, việc kiểm tra của cơ quan Hải quan là hướng đến sự tuân thủ chứ không xử phạt. Theo đó, DN cần lưu ý trong công tác phối hợp thực hiện giữa các bộ phận để tránh để xảy ra sai sót.

Tại hội nghị, đại diện một số doanh nghiệp cũng đã trực tiếp nêu câu hỏi xoay quanh định mức sản xuất đối với hàng hóa gia công sản xuất, xuất khẩu. Cụ thể, DN cho biết, định mức thực tế không khai báo định mức với cơ quan Hải quan, chỉ xuất trình với cơ quan Hải quan trong quá trình kiểm tra báo cáo quyết toán, nhưng phần cảnh báo sai phạm thường xuyên của DN (phát hiện trong quá trình kiểm tra của cơ quan Hải quan) lại có hành vi lên định mức không đúng. 

Trả lời vướng mắc này của DN, Cục Hải quan Bình Dương cho biết, trong quá trình kiểm tra báo cáo quyết toán, cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra tính chính xác của các định mức mà DN xuất trình, định mức này là định mức thực tế sản xuất tại DN. Tuy nhiên vì một lý do nào đó (như DN đã nhập thừa so với khai báo, xuất thiếu so với khai báo, hoặc trong quá trình quản lý nguyên phụ liệu tại DN do việc quản lý không được chặt chẽ, đã xảy ra tình thất thoát…) DN phải cân đối lại và xuất trình các định mức không đúng với thực tế, hành vi này được phát hiện khi cơ quan Hải quan thực hiện việc kiểm tra nên doanh nghiệp sẽ bị xử phạt và truy thu (nếu có).

Liên quan đến việc phân loại hàng hóa, đại diện phòng Thuế XNK cũng lưu ý doanh nghiệp cần phân biệt việc lấy mẫu để phân tích, phân loại xác định mã số thuế hay lấy mẫu để kiểm tra chất lượng nhà nước xác định chính sách mặt hàng (có đủ điều kiện được nhập khẩu hay không). Cụ thể, đối với hàng hóa lấy mẫu để phân tích, phân loại xác định mã số thuế thuộc diện giải phóng hàng, nghĩa là sau khi kiểm tra thực tế hàng hóa, lấy mẫu, tờ khai sẽ được giải phóng hàng, doanh nghiệp được đưa hàng hóa vào sử dụng và làm thủ tục chuyển tiền trả cho nước ngoài, không cần phải chờ đợi kết quả phân tích phân loại.

Đối với hàng hóa lấy mẫu để kiểm tra chất lượng nhà nước xác định chính sách mặt hàng thuộc diện đưa hàng về bảo quản, nghĩa là sau khi kiểm tra thực tế hàng hóa, lấy mẫu, doanh nghiệp sẽ được đưa hàng về bảo quản, doanh nghiệp không được đưa hàng hóa vào sử dụng khi chưa có kết quả kiểm tra chất lượng.

Thu Dịu

DN XUẤT KHẨU THỦY SẢN KHÓ ĐÁP ỨNG ĐƯỢC TIÊU CHUẨN QCVN

(HQ Online)- Theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), do yêu cầu của nước xuất khẩu trong chế biến thủy sản, các DN khó có thể đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật (QCVN) về môi trường. 

DN chế biến thủy sản xuất khẩu. Ảnh: T.H

Cụ thể, theo phản ánh của các DN, theo yêu cầu của khách hàng Mỹ, các DN chế biến tôm XK sang thị trường Mỹ buộc phải sử dụng nhiều phosphate trong quá trình chế biến khiến cho nước thải của các nhà máy chế biến có chỉ tiêu phospho cao từ 2-9 lần so với QCVN 11:2015. 

Với các công ty chế biến surimi, nước rửa cá cũng thường có dư lượng phospho và nitơ rất cao, đặc biệt là nitơ do công nghệ chế biến đòi hỏi phải sử dụng nước để rửa trôi các protein hòa tan trong thịt cá. Do vậy, gần như không có nhà máy surimi nào đạt chỉ tiêu Nitơ, mà thường vượt ngưỡng dư lượng tối đa cho phép của QCVN. Các DN chế biến thủy sản đã đầu tư chi phí rất lớn cho việc xử lý nitơ, phospho trong nước thải nhưng vẫn không thể đạt được QCVN theo yêu cầu.

Theo phản ánh của các DN chế biến thủy sản, việc xử lý phospho rất khó bởi nếu DN sử dụng nước ngầm trong sản xuất thì chỉ tiêu phospho có sẵn trong nước nhiều khi đã lên mức 19 mg/l, trong khi QCVN 11:2015 cho phép chỉ tiêu phospho trong nước thải đã là 20 mg/l, chính vì thế, sau quá trình  sản xuất của DN thì mức phospho chắc chắn vượt quá mức cho phép của QCVN 11:2015.

Tại các công ty chuyên chế biến surimi, nước rửa cá thường có dư lượng phospho và nitơ rất cao, đặc biệt là dư lượng Nitơ (do công nghệ chế biến đòi hỏi phải sử dụng nước để rửa trôi các protein hòa tan trong thịt cá). Do đó gần như không có nhà máy surimi nào đạt chỉ tiêu nitơ, mà thường vượt ngưỡng dư lượng tối đa cho phép của QCVN.

Hiện nay, các nước khác tại ASEAN không quy định chỉ tiêu phospho trong tiêu chuẩn về nước thải. Quy định này gây ảnh hưởng bất lợi tới khả năng cạnh tranh của DN thủy sản so với các nước trong khu vực.

Hơn nữa, Đoàn thanh tra môi trường lấy mẫu kiểm tại 3 thời điểm khác nhau và các mẫu này cho các kết quả phân tích khác nhau, nhưng Đoàn lại chọn giá trị vi phạm cao nhất để xử phạt DN. 

Để hỗ trợ DN, VASEP kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét điều chỉnh nâng giới hạn tối đa của chỉ tiêu phospho và nitơ tại QCVN 11:2015 và có lộ trình cho phép để DN thủy sản có thể hạ dần dư lượng phospho và nitơ trong nước thải sau xử lý của DN xuống đạt giới hạn tối đa cho phép. Các đoàn Thanh tra môi trường nên lấy kết quả trung bình của các mẫu kiểm để làm căn cứ xử phạt nhằm đảm bảo công bằng cho các DN.

Về bùn thải từ quá trình xử lý nước thải, từ năm 2012, VASEP cũng đã gửi Công văn số 49/2012/CV-VASEP ngày 15/5/2012 tới Bộ trưởng Bộ TN&MT, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường kiến nghị tháo gỡ khó khăn cho DN chế biến thủy sản trong việc thực hiện về quản lý môi trường. Tại công văn này, VASEP đề nghị Bộ sớm có quy định chính thức xác định bùn thải thuộc loại hình chế biến thủy hải sản không phải là bùn thải nguy hại. Do nguồn nguyên liệu của các DN chế biến thủy sản là cá, tôm và các loại thủy sản khác nhau nên thành phần hữu cơ chiếm đa số.

Theo QCVN 07:2009/BTNMT và Thông tư số 12/2011/TT-BNTMT ngày 14/4/2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại thì bùn thải từ hệ thống xử lý là các chất hữu cơ tạp chất không chứa nhiều kim loại nặng.

Lê Thu

HÀNG NK ĐỂ GÓP VỐN KHÔNG PHẢI NỘP THUẾ GTGT

(HQ Online)- DN góp vốn bằng tài sản NK để thành lập DN thì không phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định tại điểm a Khoản 7 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan cảng Cái Lân, Cục Hải quan Quảng Ninh. Ảnh: T.Trang.

Đó là trả lời của Tổng cục Hải quan trước kiến nghị của Công ty TNHH Liên doanh Nghị Phong về việc NK máy móc thiết bị về Việt Nam để góp vốn không phải nộp thuế GTGT khâu NK.

Theo phân tích của Tổng cục Hải quan, tại Điều 2 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT quy định về đối tượng chịu thuế thì: Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư này.

Bên cạnh đó, tại Điều 3 Thông tư 219/2013/TT-BTC cũng quy định: “Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân NK hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu) bao gồm…”

Như vậy, theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì khi NK hàng hóa vào Việt Nam, DN phải nộp thuế GTGT khâu NK, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 4 của Thông tư này. Sau đó, DN góp vốn bằng tài sản NK đó để thành lập DN thì không phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định tại điểm a Khoản 7 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC.

Thu Trang

HAI CỤM CẢNG THÍ ĐIỂM TRUNG CHUYỂN HÀNG HÓA GIỮA CÁC CẢNG TRUNG CHUYỂN QUỐC TẾ

(HQ Online)- Bộ Tài chính vừa có văn bản hướng dẫn về thủ tục hải quan đối với hàng trung chuyển giữa các khu vực trung chuyển tại cùng một cảng trung chuyển quốc tế và giữa các cảng trung chuyển quốc tế.

XNK hàng hóa tại cảng Cái Mép-Thị Vải. Ảnh: Nguyễn Huế

Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, sẽ thực hiện thí điểm hàng hóa trung chuyển được vận chuyển giữa các cảng trung chuyển quốc tế có khu vực trung chuyển áp dụng cho cụm cảng khu vực TP. Hồ Chí Minh và Cái Mép-Thị Vải để XK.

Thủ tục hải quan được thực hiện theo quy định tại Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính và các văn bản có liên quan. Cụ thể, về hồ sơ hải quan được thực hiện theo quy định về hồ sơ hải quan đối với hàng hóa quá cảnh tại khoản 2 Điều 42 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ). Về thủ tục hải quan thực hiện theo hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận chuyển độc lập tại khoản 1 Điều 51 về tại  Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, quy trình ban hành kèm theo Quyết định 1966/QĐ-TCHQ của Tổng cục Hải quan và các văn bản khác có liên quan. 

Bên cạnh đó, hàng hóa trung chuyển nêu trên phải chịu sự điều chỉnh về chính sách mặt hàng như đối với hàng hóa quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại Điều 40 Nghị định 187/2013/NĐ-CP.

Trong công văn gửi tới cục hải quan các tỉnh, thành phố, Bộ Tài chính cũng hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hàng hóa trung chuyển giữa các khu vực trung chuyển tại cùng một cảng trung chuyển quốc tế. 

Cụ thể, hàng hóa trung chuyển được vận chuyển giữa các khu vực lưu giữ hàng hóa trung chuyển trong cùng một cảng biển do các chi cục hải quan khác nhau quản lý nhưng đều thuộc một cục hải quan tỉnh, thành phố để XK.

Về thủ tục hải quan, DN kinh doanh cảng trung chuyển lập Bản kê hàng hóa đóng trong container trung chuyển (3 bản theo mẫu số 21/BKTrC/GSQL Phụ lục V ban hành kèm Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính) gửi cho chi cục hải quan nơi hàng hóa trung chuyển vận chuyển đi. 

Chi cục Hải quan nơi hàng hóa trung chuyển vận chuyển đi và chi cục hải quan nơi hàng trung chuyển vận chuyến đến sẽ thực hiện các bước thủ tục kiểm tra hồ sơ và hàng hóa trung chuyển.

DN kinh doanh dịch vụ trung chuyển lập và kê khai số container không phải kê khai số seal.

Trước đó, những vướng mắc về thủ tục hải quan đối với hàng hóa trung chuyển xuất phát từ quy định tại Điều 44 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ: “Hàng hóa trung chuyển là hàng hóa từ nước ngoài đưa vào khu vực trung chuyển, sau đó được đưa ra nước ngoài trực tiếp từ khu vực trung chuyển này; không được vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam để XK qua cửa khẩu khác trừ trường hợp thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Hàng hóa trung chuyển được đưa ra nước ngoài toàn bộ hoặc từng phần của lô hàng đã chuyển vào cảng”.

Vì quy định này, hàng hóa trung chuyển quốc tế không được phép vận chuyển qua lại giữa các cảng biển quốc tế trong lãnh thổ Việt Nam để XK trừ trường hợp thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Điều này đã tác động trực tiếp đến việc kinh doanh của các hãng tàu, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các cảng biển quốc tế của Việt Nam.

Chính vì vậy, Bộ Tài chính đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ vướng mắc cho việc vận chuyển hàng hóa trung chuyển giữa các cảng trung chuyển quốc tế. Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đồng ý đề nghị của Bộ Tài chính về việc thí điểm hàng hóa trung chuyển được vận chuyển giữa các cảng biển quốc tế có khu vực trung chuyển áp dụng cho cụm cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Cái Mép-Thị Vải để XK. Giao Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục hải quan để thực hiện, đảm bảo quản lý chặt chẽ. 

Đồng thời, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 08/2015/NĐ-CP, đảm bảo phù hợp, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của DN.

N.Linh

KIỂM SOÁT CHẶT NHẬP KHẨU CÁC MẶT HÀNG TRONG NƯỚC SẢN XUẤT ĐƯỢC

(HQ Online)- Tổng cục Hải quan vừa yêu cầu các cục hải quan tỉnh, thành phố; Cục Điều tra chống buôn lậu tăng cường kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng trong nước sản xuất được. 

Lực lượng Hải quan cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Ảnh: Q.H

Theo đó, các đơn vị cần tăng cường công tác thu thập, xử lý thông tin, nắm tình hình, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hàng hóa nhập khẩu, nhất là các mặt hàng được Bộ Công Thương đưa vào diện áp dụng các biện pháp tự vệ (thuế tự vệ); các mặt hàng trong nước đã sản xuất được theo Danh mục máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng, vật liệu, vật tư, linh kiện, bán thành phẩm trong nước sản xuất được (ban hành kèm theo Thông tư số 14/2015/TT-BKHĐT ngày 17/11/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Thủ trưởng các đơn vị có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị trực thuộc tăng cường tuần tra, kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển trái phép hàng hóa qua các cửa khẩu, đường mòn, lối mở, cánh gà cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu, khu thương mại, khu vực tập kết hàng hóa gần biên giới, các tuyến đường bộ, đường sắt liên vận, đường hàng không, đường biển…, sau đó thẩm lậu vào Việt Nam tiêu thụ.

Đồng thời, chủ trì phối hợp với các lực lượng chức năng: Công an, Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường… chia sẻ thông tin, nắm tình hình, tuần tra, kiểm soát, xây dựng kế hoạch và triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ trong phòng ngừa và đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới; kiên quyết xử lý nghiệm các cá nhân, tập thể thiếu tinh thần trách nhiệm, làm ngơ hoặc tiếp tay cho buôn lậu…

Quang Hùng

HẢI QUAN TP.HCM: THÊM GẦN 1.600 DN LÀM THỦ TỤC XNK

(HQ Online)- Theo Cục Hải quan TP.HCM, trong tháng 4/2017, số lượng DN làm thủ tục XNK qua các cửa khẩu TP.HCM tăng so với tháng 3 trên 1.600 DN. 

Ô tô nhập khẩu qua cảng VICT TP.HCM. Ảnh: T.H

Cụ thể, tổng số DN đã tham gia hoạt động trên địa bàn là 21.939 DN, tăng 8,2% so với tháng 3/2017 (20.275 DN). 

Với số lượng DN tham gia XNK khiến cả kim ngạch và số thu ngân sách qua các cửa khẩu TP.HCM cũng tăng mạnh. Tổng kim ngạch XNK đạt 8,41 tỷ USD, tăng 11,16% so với tháng 3/2017 (7,56 tỷ USD), tăng 10% so với tháng 4/2016 (7,65 tỷ USD). 

Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 4,43 tỷ USD, tăng 12,5% so với tháng 3/2017 và tăng 10% so với tháng 4/2016; kim ngạch XK đạt 3,98 tỷ USD, tăng 9,7% so với tháng 3/2017 và tăng 10,5% so với tháng 4/2016. 

Số thuế thu trong tháng 4 đạt 8.858 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng 3/2017, luỹ kế thu đạt 29.265 tỷ đồng đạt 26,84% chỉ tiêu pháp lệnh và tăng 14,48% so với cùng kỳ năm 2016 (23.959 tỷ đồng).

Theo Cục Hải quan TP.HCM, nguyên nhân khiến số lượng DN XNK làm thủ tục trên địa bàn tăng cao do kinh tế TP.HCM tiếp tục phát triển tốt, các DN sản xuất, kinh doanh ổn định. Cục Hải quan TP.HCM triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, nuôi dưỡng nguồn thu.

Trong đó,  tổ chức gặp gỡ, nắm bắt kế hoạch sản xuất, kinh doanh của DN để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nên một số DN mở rộng sản xuất, kinh doanh; một số DN truyền thống đã quay trở lại đăng ký làm thủ tục hải quan tại địa bàn…

Lê Thu

XUẤT KHẨU THAN ĐÁ TĂNG GẦN 7 LẦN VỀ SẢN LƯỢNG

(HQ Online)- Đây là thông tin đáng chú ý liên quan đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng tài nguyên này của nước ta trong những tháng đầu năm 2017.
Biểu đồ về sản lượng và trị giá kim ngạch xuất khẩu than (tính từ đầu năm đến 15/4) của năm 2016 và 2017. Biểu đồ: T.Bình.
Theo thông tin Tổng cục Hải quan vừa công bố, tính từ đầu năm đến 15/4, tổng sản lượng than xuất khẩu cả nước đạt 504.663 tấn, tổng trị giá kim ngạch đạt 79,438 triệu USD.

Như vậy, so với cùng kỳ năm 2016, tổng sản lượng và trị giá kim ngạch xuất khẩu than đầu tăng mạnh. Trong đó tổng sản lượng xuất khẩu tăng đến 6,7 lần và trị giá kim ngạch tăng hơn 13 lần.

Với tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh hơn so với sản lượng nên mức giá xuất khẩu trung bình của mặt hàng này cũng tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái.

Cụ thể mức giá xuất khẩu than trung bình cùng kỳ năm 2016 chỉ là 79 USD/tấn, trong khi tính đến 15/4 năm nay con số này đã vọt lên trên 157 USD/tân.

Đáng chú ý, nếu như nhiều năm trước một trong những thị trường xuất khẩu than chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, thì từ đầu năm 2017 đến nay, Trung Quốc gần như “vắng bóng” trên bản đố xuất khẩu than của nước ta.

Căn cứ dữ liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, hết quý I/2017, các thị trường xuất khẩu than chủ yếu của Việt Nam là Nhật Bản, Indonesia, Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc…

Thái Bình

DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC NHẬP SIÊU GẦN 8,5 TỶ USD SAU 4 THÁNG

4 tháng đầu năm, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 8,49 tỷ USD trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại xuất siêu 5,75 tỷ USD…

Báo cáo tình hình xuất nhập khẩu tháng 4 vừa công bố của Tổng cục Thống kê cho thấy nhập siêu tiếp tục tăng thêm 800 triệu USD, nâng mức nhập siêu cả nước 4 tháng lên tới 2,74 tỷ USD.

Cụ thể, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4 ước tính đạt 16,7 tỷ USD, giảm 3,2% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Kim ngạch một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 42,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 34,3%; điện thoại và linh kiện tăng 17,4%.

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tháng 4 đạt 17,5 tỷ USD, giảm 4,6% so với tháng trước nhưng tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 61,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 17,3 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 44 tỷ USD.

Một số mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao như hàng dệt may, máy tính điện tử, giày dép, thuỷ sản, gỗ, rau quả, dầu thô… Tuy nhiên, các nông sản như sắn, hạt tiêu, gạo vẫn sụt giảm mạnh…

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 4 tháng đầu năm, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 11,9 tỷ USD; tiếp đến là EU đạt 11,3 tỷ USD; Trung Quốc đạt 8,6 tỷ USD; ASEAN đạt 6,7 tỷ USD; Nhật Bản đạt 5,2 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 4,4 tỷ USD.

Về nhập khẩu, 4 tháng đầu năm 2017, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 64,1 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 25,8 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38,3 tỷ USD.

Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với cùng kỳ như máy móc phụ tùng, điện thoại và linh kiện, sắt thép, chất dẻo, hoá chất, thức ăn gia súc, kim loại và xăng dầu…

Về thị trường nhập khẩu 4 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 17,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2016. Tiếp đến là Hàn Quốc đạt 13,7 tỷ USD, tăng 45,3%; ASEAN đạt 8,9 tỷ USD, tăng 20,4%…

Tổng cục Thống kê cho biết, tình hình nhập siêu đã bắt đầu cao trở lại ngay những tháng đầu năm. Tháng 3 nhập siêu lên tới 1,1 tỷ USD, tháng 4 nhập siêu cả nước tiếp tục gia tăng 800 triệu USD.

Tính chung 4 tháng đầu năm nay, nhập siêu cả nước lên tới 2,74 tỷ USD, bằng 4,5% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.

Đáng chú ý, trong cơ cấu nhập siêu cả nước, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu lên tới 8,49 tỷ USD trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại xuất siêu 5,75 tỷ USD.

Các mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng cao 4 tháng đầu năm - Đơn vị: Tỷ USD

Các mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng cao 4 tháng đầu năm – Đơn vị: Tỷ USD

Các mặt hàng nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng cao 4 tháng đầu năm nay - Đơn vị: Tỷ USD

Các mặt hàng nhập khẩu có tốc độ tăng trưởng cao 4 tháng đầu năm nay – Đơn vị: Tỷ USD

Theo Bạch Huệ

Vneconomy

BÀ RỊA – VŨNG TÀU: GIA TĂNG BUÔN LẬU TẠI KHU VỰC CẢNG BIỂN

(HQ Online)- Trong thời gian gần đây, lực lượng Hải quan tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) liên tục phát hiện các vụ buôn lậu tại khu vực Tân Cảng – Cái Mép với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, táo bạo.

Phần lớn số hàng hóa vi phạm phát hiện thời gian gần đây là hàng điện tử, điện lạnh đã qua sử dụng.

Trong đó, chỉ riêng trong tháng 4, Chi cục HQCK Cảng Cái Mép, Cục Hải quan BR-VT đã liên tục phát hiện hàng trăm mặt hàng thuộc danh mục hàng cấm NK, hàng không đủ điều kiện quá cảnh, hàng nhập lậu, trong các contairner hàng chuyển cảng, hàng quá cảnh, phần lớn là hàng điện lạnh, điện tử đã qua sử dụng.

Gần đây nhất, ngày 17 và 18/4, qua kiểm tra 2 container hàng chuyển cảng về Cảng Hiệp Phước, TP.HCM, Chi cục HQCK Cảng Cái Mép đã phát hiện hàng trăm mặt hàng thuộc danh mục hàng cấm NK bao gồm tủ lạnh, máy giặt, máy điều hòa, máy lọc không khí, máy hút ẩm điều hòa… đã qua sử dụng. Chi cục HQCK cảng Cái Mép cho biết, 2 container hàng này thuộc tờ khai vận chuyển độc lập ngày 13/4/2017 của Công ty TNHH cảng Quốc tế Tân Cảng Cái Mép. Theo thông tin khai báo trên E-Manifest hàng hóa trong container là máy móc đã qua sử dụng.

Trước đó, ngày 7/4, Chi cục HQCK Cảng Cái Mép phối hợp với Đội kiểm soát Hải quan, Cục Hải quan BR-VT kiểm tra một container hàng quá cảnh có nghi vấn, phát hiện một số mặt hàng không đủ điều kiện quá cảnh trong đó chủ yếu là loa, amply, bộ chỉnh âm thanh… đã qua sử dụng.  Theo thông tin từ Chi cục, lô hàng trên thuộc tờ khai vận chuyển độc lập do Công ty Cổ phần Gemadept mở ngày 3/4/2017. Đây là container hàng quá cảnh đi Campuchia. Theo khai báo của chủ hàng trên E-manifest, hàng hóa NK là đồ gia dụng. Ngày 5/4, kiểm tra thực tế 1 container hàng quá cảnh, Chi cục HQCK cảng Cái Mép cũng đã phát hiện số lượng lớn hàng không đủ điều kiện quá cảnh gồm nhiều mặt hàng đã qua sử dụng như: loa thùng, ampli, đĩa nhạc; nước giải khát, bia, sữa… Đặc biệt, trong container hàng quá cảnh này còn có 1 xe Honda SH 150i. Theo khai báo của chủ hàng là Công ty TNHH Madame Anime Inc, hàng hóa trong container này là hàng tạp hóa tiêu dùng mới 100%, sẽ xuất qua cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, Bình Phước. Ngày 1/4/2017, Chi cục HQCK Cảng Cái Mép khám xét và phát hiện 1 container hàng cấm NK chứa đầy hàng điện lạnh, hàng gia dụng, máy móc nông ngư cơ đã qua sử dụng như: Máy điều hòa, nồi cơm điện, lò vi sóng, máy cắt cỏ… Lô hàng trên được nhập về cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép (TCIT) vào ngày 31/3/2017 do Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Vận tải An Hòa Bình đứng tên nhận hàng. Theo nội dung thể hiện trên bản lược khai hàng hóa, hàng NK là máy chà nhám rung băng và bột mài máy chà nhám.

Trước đó, trong tháng 2, cũng tại Tân Cảng Cái Mép, Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Nam (Đội 3), Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan và Chi cục HQCK Cảng Cái Mép cũng đã thực hiện khám xét container được khai là hàng tiêu dùng của một công ty tại quận Gò Vấp, TP.HCM phát hiện hàng trăm kiện hàng bách hóa các loại. Trong mỗi kiện chứa đủ các loại hàng hóa, như: Mỹ phẩm, âm ly, bếp từ… Theo phân tích của các cán bộ hải quan khám xét lô hàng, các kiện hàng này được gom theo dạng quà biếu, quà tặng. Tuy nhiên, lô hàng lại được các đối tượng vận chuyển về theo dạng hàng quá cảnh đi Camphuchia. Đây là hình thức buôn lậu mới đối với hàng quà biếu, quà tặng. Trước đó, Đội 3 và Chi cục HQCK Cảng Cái Mép đã thực hiện khám xét 4 container hàng quá cảnh, phát hiện hàng hóa trong container là đồ điện tử, điện máy các loại, như: Quạt máy, máy lạnh, tủ lạnh, bếp điện… tất cả đều đã qua sử dụng thuộc danh mục hàng không đủ điều kiện quá cảnh theo quy định của Bộ Công Thương.

Thông tin về số hàng vi phạm nêu trên, ông Nguyễn Văn Danh, Chi cục trưởng Chi cục HQCK cảng Cái Mép cho biết, tất cả các DN đứng tên nhận hàng trong các container hàng hóa vi phạm bị phát hiện trong thời gian qua đều chưa từng mở tờ khai tại Chi cục, vì hàng hóa vi phạm đều nằm trong các container hàng hóa quá cảnh, chuyển cảng, hoặc mở tờ khai ở Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu. Hiện các mặt hàng vi phạm đang được niêm phong chờ kết quả giám định để có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Nhận định về tình hình buôn lậu tại khu vực cảng biển trong thời gian từ đầu năm đến nay, Phó cục trưởng Cục Hải quan BR-VT Nguyễn Thanh Sang, cho biết tình hình buôn lậu trên địa bàn hoạt động của đơn vị có chiều hướng diễn biến phức tạp. Các đối tượng hoạt động ngày càng táo bạo với nhiều phương thức thủ đoạn khác nhau như lợi dụng loại hình quá cảnh, chuyển cảng nhập kinh doanh sản xuất để buôn lậu các mặt hàng chủ yếu như hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, diện thoại, rượu, thực phẩm chức năng.

Nguyên nhân, theo ông Nguyễn Thanh Sang là do việc buôn lậu với quy mô hàng chục container đem lại cho các đối tượng buôn lậu một khoản lợi nhuận khổng lồ. Bên cạnh đó, thủ tục hải quan ngày càng thuận lợi cũng tạo điều kiện cho các hoạt động XNK hợp pháp dễ bị các đối tượng lợi dụng để buôn lậu.

Trước tình hình trên, ông Sang cho biết, ngay từ đầu năm, Cục Hải quan BR-VT đã triển khai kế hoạch kiểm soát hải quan theo kế hoạch của Tổng cục Hải quan để nắm tình hình, tuần tra, kiểm soát, thu thập, phân tích thông tin để phát hiện các dấu hiệu vi phạm từ đó tiến hành kiểm tra, bắt giữ. Cùng với đó, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong ngành như Cục Điều tra chống buôn lậu và các Cục Hải quan địa phương như TP.HCM, Bình Dương, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai và các lực lượng chức năng như Công an, Biên phòng, Quản lý thị trường, Ban chỉ đạo 389 địa phương để thực hiện các giải pháp đấu tranh chống buôn lậu hiệu quả.  

Nguyễn Huế

SOI CHIẾU TRƯỚC HÀNG HÓA ĐỂ GIẢM CHI PHÍ XÃ HỘI

(HQ Online)- Hiện cơ quan Hải quan thực hiện soi chiếu ngay từ khi container hàng hóa được xếp dỡ từ phương tiện vận tải NK trước khi vận chuyển tới nơi tập kết hàng hóa đã làm giảm đáng kể về thời gian và chi phí của DN.

Cơ quan Hải quan thực hiện soi chiếu trước hàng hóa NK để giảm thời gian, chi phí cho DN (Trong ảnh: CBCC Hải quan Hải Phòng vận hành máy soi container). Ảnh: Quang Hùng.

Trên cơ sở các quy định về việc kiểm tra trong quá trình xếp dỡ, vận chuyển, lưu giữ tại kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu (tại Điều 28 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ và Điều 9 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính), cơ quan Hải quan đã tiến hành kiểm tra bằng máy soi container đối với hàng hóa NK trong quá trình xếp dỡ từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu nhập (gọi tắt là “soi chiếu trước” đối với hàng hóa NK) thuộc địa bàn được trang bị máy soi container.

Trước đây DN làm các thủ tục để xuất trình hàng hóa, vận chuyển container (từ nơi đã tập kết tại kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu nhập) tới địa điểm soi chiếu theo chỉ dẫn phân luồng kiểm tra trên hệ thống hoặc chuyển luồng kiểm tra máy soi trong quá trình làm thủ tục tại chi cục hải quan. Hiện nay, bằng hoạt động thu thập, phân tích, đánh giá thông tin trước khi hàng đến, cơ quan Hải quan (lực lượng Quản lý rủi ro các cấp-PV) đã xác định và tổ chức thực hiện soi chiếu ngay từ khi container hàng hóa được xếp dỡ từ phương tiện vận tải NK và vận chuyển tới nơi tập kết sau khi soi chiếu.

Việc soi chiếu trước đã làm giảm đáng kể về thời gian và chi phí của DN trong quá trình làm thủ tục hải quan, chi phí vận hành máy móc, tổ chức sản xuất của đơn vị kinh doanh cảng, đồng thời cũng giúp cho cơ quan Hải quan chủ động kiểm tra, giám sát hải quan trên nền tảng phương pháp, kỹ thuật quản lý rủi ro đối với đối tượng trọng điểm và tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp.

Để nâng cao, đảm bảo hiệu suất, hiệu quả sử dụng máy soi container trong hoạt động kiểm tra hải quan theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Tài chính và lãnh đạo Tổng cục Hải quan, Cục Quản lý rủi ro đã triển khai tăng cường hơn nữa hoạt động nghiệp vụ thu thập xử lý thông tin, phân tích đánh giá rủi ro bằng việc giao Phòng Kiểm soát rủi ro hàng hóa XNK thực hiện phân công, phân ca làm việc ngoài giờ hành chính đảm bảo xử lý kịp thời đối với luồng thông tin đến 24/7.

Việc thực hiện ngoài giờ hành chính nêu trên của cơ quan quản lý cấp trung ương và thí điểm làm việc 24/24 của 1 đơn vị quản lý, vận hành máy soi – địa bàn cảng Cát Lái, TP. Hồ Chí Minh thời gian qua là thông điệp tích cực của ngành Hải quan trong cải cách hành chính, tạo thuận lợi, cải thiện môi trường kinh doanh theo mục tiêu quốc gia đã đặt ra của Chính phủ tại các Nghị quyết số 19 trong các năm 2015, 2016 và 2017. 

Trong quá trình triển khai, Cục Quản lý rủi ro đã hướng dẫn các đơn vị Quản lý rủi ro cấp cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện các nội dung nêu trên, cảnh báo rủi ro trong toàn Ngành và các địa bàn được trang cấp, lắp đặt máy soi container (Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương), đồng thời trực tiếp tiến hành thu thập, xử lý thông tin trước khi hàng đến, phân tích đánh giá rủi ro, xác định trọng điểm, chuyển thông tin để tổ chức thực hiện soi chiếu trước.

Kết quả, lực lượng Hải quan các cấp đã “lật tẩy” nhiều lô hàng cất giấu hàng hóa cấm NK, gian lận thương mại. Điển hình là trước tình hình buôn lậu sản phẩm động vật hoang dã, vi phạm Công ước quốc tế CITES diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, Phòng Kiểm soát rủi ro hàng hóa XNK (Cục Quản lý rủi ro) tập trung phân tích thông tin, xác định chính xác một số lô hàng NK về Việt Nam có giấu ngà voi thông qua hoạt động “soi chiếu trước” và sự phối hợp kiểm tra thực tế hàng hóa của các lực lượng chức năng. Vào cuối tháng 10/2016, lực lượng chức năng đã kiểm tra, phát hiện 2 container chứa khoảng 500kg ngà voi được ngụy trang, cất giấu trong 12 khối gỗ rỗng ruột tại địa bàn cảng Cát Lái. Tiếp đó, các lực lượng Hải quan và lực lượng phối hợp đã phát hiện tổng cộng 7 vụ nhập lậu ngà voi với số lượng gần 6 tấn ngà voi trong các container gỗ nhập khẩu với phương thức, thủ đoạn tương tự.

Có thể nói, công tác kiểm tra hải quan thông qua máy soi container và công tác thu thập, phân tích thông tin xác định rủi ro thời gian qua đã đem lại những hiệu quả tích cực như nêu trên, tuy nhiên trong quá trình triển khai vẫn còn gặp một số hạn chế, vướng mắc nhất định. Đó là, sự hợp tác của đơn vị kinh doanh cảng trong hoạt động này hiện chủ yếu dựa trên cơ sở mối quan hệ, kết nối của đơn vị Hải quan được giao phụ trách, quản lý, vận hành máy soi container nên cần có sự cam kết thực hiện của các cơ quan chủ quản để đảm bảo thống nhất trong thực hiện công tác này.

Đồng thời, việc thiếu nhân lực đáp ứng tăng thời gian làm việc, hoạt động nghiệp vụ ngoài giờ hành chính nêu trên (ví dụ như Phòng Kiểm soát rủi ro hàng hóa XNK phân ca làm việc 3 ca trong khi chỉ có 12 cán bộ công chức). Song song với đó, chế độ, phụ cấp và các điều kiện đảm bảo khác phục vụ làm việc ngoài giờ hành chính vẫn quy định cụ thể, chưa được hỗ trợ kịp thời nhằm duy trì và đẩy mạnh hoạt động của công tác này tại các địa điểm trang bị máy soi container trong thời gian tới.

Với sự quan tâm, chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan về công tác này, các vướng mắc nêu trên sẽ sớm được khắc phục, xử lý trong thời gian tới để góp phần thực hiện mục tiêu cải cách hành chính cũng như việc sử dụng có hiệu quả trang thiết bị, máy móc chuyên dùng trong công tác nghiệp vụ của ngành Hải quan. Để góp phần hoàn thành mục tiêu chính trị đã đặt ra, cần thiết có sự phối hợp chặt chẽ trong tổ chức thực hiện của tất cả các cơ quan hữu quan, cộng đồng DN, tổ chức và cá nhân có liên quan. 

Quốc Bảo-Quang Hùng