NHỮNG LƯU Ý KHI NHẬP HÀNG VÀO AUSTRALIA

(HQ Online)- Thương vụ Việt Nam tại Australia khuyến cáo các doanh nghiệp khi nhập khẩu hàng hoá vào Australia, cần kiểm tra các bước sau đây để đảm bảo tuân thủ các qui định và luật lệ của Australia.

Điện thoại các loại và linh kiện là mặt hang xuất khẩu sang Australia lớn nhất. Ảnh internet.

Đầu tiên, Chính phủ Australia có một số luật các doanh nghiệp phải tuân thủ khi nhập khẩu hàng hoá vào Australlia ví dụ như quy định nhập hàng nông sản, thực phẩm… Do đó, doanh nghiệp phải đảm bảo nắm được các luật và quy định nhập khẩu.

Thông thường, doanh nghiệp và cá nhân nhập khẩu hàng hoá vào Australia không cần giấy phép nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng nhất định, bạn cần xin giấy phép. Một số loại hàng hoá bị cấm hoặc hạn chế nhập khẩu, nhưng chủ yếu là các mặt hàng như hoá chất nguy hiểm, dược phẩm, ma tuý, một số loại thực phẩm nhất định, vũ khí, thuốc lá và một số loại vật liệu sinh học.

Bên cạnh đó, khi nhập khẩu hàng hoá, doanh nghiệp cũng cần hiểu các quy tắc xuất xứ để tận dụng các ưu đãi nếu có.

Tiếp theo, doanh nghiệp phải kiểm tra xem hàng hoá có phải kiểm dịch. Nếu nhập khẩu thực vật, động vật, khoáng sản và các sản phẩm dùng cho con người thì phải kiểm dịch và xử lý côn trùng hoặc các yếu tố sinh học khác.

Vấn đề phí và thuế phải nộp cũng là vấn đề đáng chú ý. Theo đó, thông thường hải quan sẽ thu phí xử lý hàng hóa thông thường dưới 200 AUD, thuế hàng hóa và dịch vụ (GST) được tính bằng 10% tổng giá trị của hàng hoá, cộng với thuế nhập khẩu, cộng với phí bảo hiểm và vận chuyển đến Australia.

Thuế nhập khẩu được tính dựa trên phần trăm giá hàng hoá, vào khoảng 0-10% nhưng chủ yếu 5%. Còn thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng cho đồ uống có cồn, thuốc lá và xăng dầu.

Thêm vào đó, hàng hoá nhập khẩu vào Australia phải dán nhãn phù hợp, gồm ít nhất các thông tin về nước sản xuất và xuất xứ, miêu tả chính xác về hàng hoá, địa chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu. Nhãn phải được viết bằng tiếng Anh, gắn liền với hàng hoá, ở vị trí dễ nhận biết và dễ đọc.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong bốn tháng đầu năm 2017, kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Australia đạt hơn hơn 1,89 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Australia đạt gần 1,05 tỷ USD, tăng 21,2%, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Australia đạt 848,02 triệu, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2016.

Phan Thu

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

MÃ HÓA CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ, KIỂM TRA CHUYÊN NGÀNH: CHÌA KHÓA ĐỒNG BỘ VNACCS VÀ MỘT CỬA QUỐC GIA

(HQ Online)- Mã hóa các chứng từ kiểm tra chuyên ngành (KTCN) và quản lý chuyên ngành là yêu cầu quan trọng nhằm thực hiện tốt yêu cầu quản lý nhà nước đối với hàng hóa XNK thuộc diện quản lý chuyên ngành và KTCN, đồng thời để đồng bộ việc trao đổi thông tin giữa Cổng thông tin một cửa quốc gia và Hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS.

Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng. Ảnh: N.Linh.

Để phục vụ yêu cầu này, Tổng cục Hải quan tổ chức đợt rà soát tập trung (từ ngày 7 đến 10/6) các thủ tục hành chính (TTHC) về chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Ông Ngô Minh Hải – Phó Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan cho biết, công tác rà soát văn bản về quản lý và KTCN đã được Tổng cục Hải quan thường xuyên thực hiện. Đặc biệt là từ khi triển khai chỉ đạo của Chính phủ tại Quyết định 2026/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động KTCN và các Nghị quyết 19 trong 4 năm qua. Có thể thấy, công tác rà soát TTHC về chính sách quản lý với hàng hóa XNK có vai trò quan trọng trong cải cách hành chính. Qua rà soát, cơ quan Hải quan đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo bộ, ngành liên quan sửa đổi nhiều TTHC theo hướng đơn giản hơn, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, thông quan hàng hóa. Theo ông Ngô Minh Hải, việc rà soát nhằm mã hóa các chứng từ KTCN và quản lý chuyên ngành là việc không thể không có để phục vụ khai báo hải quan điện tử.

Trong đợt rà soát lần này, Tổng cục Hải quan và cục hải quan các tỉnh, thành phố đặt ra yêu cầu phải rà soát toàn bộ TTHC về chính sách quản lý của các bộ, ngành đối với hàng hóa XNK, bao gồm 270 TTHC/chính sách quản lý. Trong đó gồm: Giấy phép NK, giấy phép XK; thông báo đạt/miễn kiểm tra chất lượng/an toàn thực phẩm/kiểm dịch…. Cơ quan Hải quan cũng rà soát cả các loại giấy tờ/chứng từ yêu cầu cần cung cấp trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan mà không phải là kết quả TTHC của bộ, ngành (hay nói cách khác là các điều kiện để NK hàng hóa). Ví dụ như: Giấy chứng nhận đăng ký DN, giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận kinh doanh trong đó có ngành nghề phân bón do cơ quan có thẩm quyền cấp…

Đối với mỗi TTHC/chính sách quản lý, cần rà soát xem đã đúng, đủ chưa về các nội dung như: Cơ quan ban hành văn bản quy định về chính sách quản lý; loại chính sách quản lý (cấm, giấy phép, giấy phép tự động, hạn ngạch, kiểm tra chất lượng, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn thực phẩm…); TTHC; kết quả TTHC; hiệu lực của kết quả TTHC; đối tượng loại trừ; căn cứ pháp lý; Danh mục hàng hóa áp dụng; thời điểm xuất trình/nộp chứng từ…

Với khối lượng danh mục TTHC quy định về chính sách quản lý đối với hàng hóa XNK lớn, đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan cũng đặt ra những nội dung dự kiến sẽ gây khó khăn rất lớn khi rà soát, chẳng hạn như Danh mục hàng hóa áp dụng. Do các bộ, ngành ban hành văn bản không có sự thống nhất, có những văn bản không kèm theo danh mục, có văn bản thì đưa ra danh mục nhưng chỉ điều chỉnh đối với một mặt hàng hoặc một vài mặt hàng, hay thậm chí có những danh mục mặt hàng như thức ăn chăn nuôi thì lại nằm trong hàng loạt văn bản khác nhau… Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải rà soát toàn bộ danh mục mặt hàng đó.

Từ kết quả đợt rà soát, Tổng cục Hải quan sẽ xây dựng danh mục thủ TTHC quy định về chính sách quản lý đối với hàng hóa XNK chi tiết nhất có thể, để phục vụ việc áp mã và mã hóa trên hệ thống thông quan điện tử của cơ quan Hải quan cũng như là đồng bộ trao đổi thông tin với Cổng thông tin một cửa quốc gia. 

Trong thời gian qua, với vai trò là đơn vị được Bộ Tài chính giao chủ trì triển khai Quyết định 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết của Chính phủ liên quan đến công tác KTCN và quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa XNK, Tổng cục Hải quan đã thành lập Tổ chuyên trách gồm 30 thành viên là cán bộ của các đơn vị thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan.

Trong năm 2016, đầu năm 2017 Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã chủ động chủ trì phối hợp với đơn vị chức năng liên quan thuộc các bộ, ngành để đôn đốc triển hai thực hiện các nhiệm vụ liên quan công tác KTCN đối với hàng hóa XNK; lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã trực tiếp làm việc với lãnh đạo một số bộ quản lý chuyên ngành để kiến nghị về thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao trong Quyết định 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ. Sau các đợt rà soát, Bộ Tài chính đã có báo cáo gửi các bộ và báo cáo Văn phòng Chính phủ về kết quả triển khai.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm đơn giản hóa TTHC về KTCN, giảm thời gian thông quan hàng hóa XNK. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng cổng thông tin về KTCN trong Cổng Thông tin một cửa quốc gia. Trong khi chờ Cổng thông tin một cửa quốc gia hoàn thiện, Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng Cổng thông tin KTCN để giải quyết yêu cầu đặt ra phục vụ cho hoạt động KTCN. Chương trình này đã được triển khai tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh, phục vụ thiết thực cho hoạt động KTCN tại địa điểm này.

Tổng cục Hải quan đã tổ chức triển khai công tác kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của Cục Kiểm định hải quan. Theo đó, Cục Kiểm định hải quan thực hiện thí điểm tiếp nhận một số mặt hàng mà đơn vị có đủ năng lực triển khai (phân bón, đồ chơi bằng nhựa); trang bị phòng kiểm định di động để phục vụ công tác KTCN tại các tỉnh khu vực biên giới phía Bắc (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai). Nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất, số lượng cán bộ KTCN theo hướng chuyên sâu cho các khu vực có lưu lượng XNK hàng hóa nhiều phải kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ngọc Linh

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

3 CÔNG TY CỦA SAMSUNG DẪN ĐẦU CẢ NƯỚC VỀ TỔNG KIM NGẠCH XNK

(HQ Online)- Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2017, 3 DN có tổng kim ngạch XNK dẫn đầu cả nước đều thuộc về các công ty của Samsung.

Ảnh minh họa.

Đó là: Công ty TNHH Samsung Electronics VN Thái Nguyên với tổng kim ngạch XNK cao nhất cả nước, đạt 14,94 tỷ USD, tăng 69,7% so với cùng kỳ năm trước; Công ty TNHH Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam có tổng kim ngạch XNK đạt 9,8 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2016; Công ty TNHH Samsung Display có tổng kim ngạch XNK đạt 6,62 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2016.

Được biết, số lượng DN tham gia hoạt động XNK trong 5 tháng đầu năm 2017 là 57,6 nghìn DN, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong 5 tháng đầu năm nay, cả nước có thêm 7.167 DN tham gia hoạt động XNK.

5 tháng đầu năm 2017, tổng trị giá XNK hàng hoá của Việt Nam đạt 162,48 tỷ USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó tổng trị giá XK đạt 82,54 tỷ USD, tăng 24,8% và tổng trị giá NK đạt 79,9 tỷ USD, tăng 18,4%. Như vậy, trong 5 tháng đầu năm 2017 Việt Nam nhập siêu gần 2,6 tỷ USD, với tỷ lệ nhập siêu là 3,2%.

Số lượng tờ khai XNK trong tháng 5/2017, tổng số tờ khai XNK đạt gần 981 nghìn tờ, tăng 12% so với tháng trước. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 5/2017, tổng số lượng tờ khai xuất nhập khẩu đạt 4,39 triệu tờ, trong đó tờ khai XK đạt 2,11 triệu tờ và tờ khai NK là 2,28 triệu tờ.

Thu Trang

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

THU NGÂN SÁCH 5 THÁNG ĐẠT HƠN 481 NGHÌN TỶ ĐỒNG

(HQ Online)- Theo báo cáo mới nhất cả Bộ Tài chính, tổng thu cân đối NSNN thực hiện tháng 5 của cả nước ước đạt 85,3 nghìn tỷ đồng, lũy kế 5 tháng đạt 481,27 nghìn tỷ đồng, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2016, bằng 39,7% dự toán.

Thu nội địa tháng 5 thấp hơn 18,2 nghìn tỷ đồng chủ yếu do một số khoản thuế  phát sinh quý I/2017 đã tập trung kê khai, thu nộp trong tháng 4. Ảnh: T.Linh.

Trong đó, thu nội địa tháng 5 ước đạt 66,88 nghìn tỷ đồng, thấp hơn 18,2 nghìn tỷ đồng so với tháng trước chủ yếu do các khoản thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Thu nhập cá nhân và thuế Giá trị gia tăng của các doanh nghiệp có doanh thu dưới 20 tỷ đồng phát sinh quý I/2017 đã tập trung kê khai, thu nộp trong tháng 4 theo chế độ quy định. Lũy kế thu 5 tháng đạt 388,26 nghìn tỷ đồng.

Thu từ dầu thô tháng 5 ước đạt 3,84 nghìn tỷ đồng, tăng gần 400 tỷ đồng so tháng trước. Giá dầu thô trên thị trường thế giới từ cuối tháng 4/2017 đến nay dao động trong khoảng 48-51 USD/thùng; giá dầu thanh toán bình quân trong kỳ khoảng 52,5 USD/thùng, tăng 2,5 USD/thùng so với giá dự toán; sản lượng dầu thanh toán ước đạt 1,21 triệu tấn. Như vậy, tính chung 5 tháng đạt 18,9 nghìn tỷ đồng.

Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 5 tháng ước đạt 74 nghìn tỷ đồng sau khi đã hoàn thuế Giá trị gia tăng theo chế độ 41 nghìn tỷ đồng. 

Tổng chi NSNN 5 tháng ước đạt 484,58 nghìn tỷ đồng, bằng 34,8% dự toán, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó chi đầu tư phát triển 76,26 nghìn tỷ đồng, bằng 21,4% dự toán, tăng 22,6%; chi trả nợ 44,9 nghìn tỷ đồng, bằng 45,4% dự toán, tăng 10,2%; chi thường xuyên đạt 362,39 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% dự toán, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2016. 

Riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) thực hiện 5 tháng ước đạt 21% dự toán (cùng kỳ năm 2016 đạt 20,9%). Trong đó, vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN ước đạt 24,8% dự toán (các bộ, cơ quan trung ương đạt 31,6% dự toán; các địa phương đạt 23,1% dự toán); vốn trái phiếu Chính phủ 5 tháng đầu năm chưa giải ngân.

Nguyên nhân giải ngân chi đầu tư XDCB chậm chủ yếu do công tác triển khai phân bổ dự toán muộn (đến cuối tháng 4/2017 vốn đầu tư nguồn NSNN mới giao kế hoạch đợt 2 và vẫn còn 3,6 nghìn tỷ đồng chưa giao kế hoạch; vốn trái phiếu Chính phủ mới giao được 5,2/50 nghìn tỷ đồng kế hoạch), ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện và giải ngân vốn của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.

Cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương cơ bản được đảm bảo; trong đó: bội chi ngân sách Trung ương 5 tháng khoảng 55,5 nghìn tỷ đồng.

H.Vân

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

GỠ VƯỚNG CHO DOANH NGHIỆP VỀ ƯU ĐÃI, ÂN HẠN THUẾ

(HQ Online)- Nhằm hỗ trợ, trao đổi, hướng dẫn giúp cộng đồng DN hiểu sâu hơn về thủ tục hải quan, thuế, Tổng cục Hải quan đã ghi nhận và hướng dẫn cụ thể một số vướng mắc về ưu đãi, ân hạn thuế mà nhiều DN đang vướng mắc, quan tâm.

CBCC Hải quan Lạng Sơn hướng dẫn DN làm thủ tục hải quan. Ảnh: H.Nụ.

Hiệp hội DN Thanh Hóa hỏi: Đối với nguyên liệu phục vụ y tế mà cụ thể là dung dịch chạy thận (NaCl) NK có được ưu đãi thuế không? Nếu được ưu đãi DN phải làm thủ tục gì?

Theo Tổng cục Hải quan, tại khoản 14 Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK quy định: “Nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK trong nước chưa sản xuất được của dự án đầu tư để sản xuất, lắp ráp trang thiết bị y tế được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo được miễn thuế NK trong thời hạn 5 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất”.

Cũng tại khoản 1, 3 Điều 23 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ về miễn thuế nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK để sản xuất, lắp ráp trang thiết bị y tế quy định Danh mục sản phẩm trang thiết bị y tế được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này. Căn cứ để xác định hàng hóa trong nước chưa sản xuất được thực hiện theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Đối chiếu các quy định nêu trên, Tổng cục Hải quan cho biết, trường hợp của DN không thuộc trường hợp được miễn thuế NK theo quy định.

Công ty TNHH Fabchem Vina thắc mắc trường hợp nộp thừa thuế NK hết thời gian ân hạn 275 ngày, nếu DN nộp thừa thuế NK nguyên liệu quá 275 ngày thì sau ngày 1/9/2016, DN có phát sinh thuế NK phải nộp của tờ khai nhập kinh doanh, hoặc bất kỳ tờ khai nào phát sinh thuế NK phải nộp, đồng thời mở tờ khai tại chi cục hải quan khác chi cục hải quan DN đã đăng ký thì có được bù trừ khoản tiền thuế NK nộp thừa không?

Liên quan đến thắc mắc của DN, Tổng cục Hải quan cho biết, theo Điều 132 Thông tư 38/2015/TT-BTC, không quy định việc bù trừ vào số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của lần nộp kế tiếp theo chỉ được thực hiện tại nơi người nộp thuế có số tiền thuế được hoàn. Tuy nhiên, việc bù trừ cho số nợ tại đơn vị hải quan khác được thực hiện khi người nộp thuế không còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nào khác tại nơi ra quyết định hoàn thuế.

Công ty TNHH Kim loại Việt Phong đang lúng túng và xin được hướng dẫn quy trình thủ tục, hồ sơ hoàn thuế đối với  hàng hóa XK để gia công sau đó NK có được miễn thuế XK và thuế NK tính trên phần giá trị của nguyên vật liệu cấu thành sản phẩm gia công không? Nguyên liệu DN đã xuất đi gia công và đã được nhập về dưới dạng sản phẩm sau gia công NK thì có được làm hồ sơ và công văn xin không thu thuế cho phần nguyên liệu đã xuất đi đã được nhập về hay không? Hồ sơ, thủ tục như thế nào? Trong trường hợp phải đóng thuế XK khi làm thủ tục hải quan XK nguyên liệu đi gia công nước ngoài thì có được hoàn thuế XK sau khi đã NK sản phẩm sau gia công hay không? DN cũng thắc mắc, vì sao, sau ngày 1/9/2016 không tiếp tục tạo điều kiện cho hoạt động theo loại hình này phát triển mà sản phẩm XK theo loại hình sản xuất XK phải chịu thuế XK nếu mặt hàng có thuế?

Hướng dẫn các vấn đề DN còn lúng túng trong thực hiện quy trình, thủ tục, hồ sơ hoàn thuế, Tổng cục Hải quan cho biết, chính sách thuế đối với hàng hóa XK để gia công đã được quy định tại khoản 6 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Hàng hóa XK để gia công là tài nguyên, khoáng sản, sản phẩm có tổng giá trị tài nguyên, khoảng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên và hàng hóa XK để gia công thuộc đối tượng chịu thuế XK thì không được miễn thuế XK”. Theo đó, hàng hóa XK để gia công thuộc đối tượng chịu thuế XK thì người khai hải quan phải báo và nộp thuế XK theo mức thuế suất XK quy định tại Biểu thuế XK ban hành kèm theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Nhấn mạnh về vấn đề này, Tổng cục Hải quan cho biết thêm, thời gian qua, đơn vị đã nhận được phản ánh vướng mắc của một số DN về việc áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa XK để gia công, Tổng cục Hải quan đang tổng hợp báo cáo cấp có thẩm quyền và sẽ trả lời các DN có vướng mắc, kiến nghị.

Liên quan đến thắc mắc của DN về miễn thuế, theo Tổng cục Hải quan các trường hợp miễn thuế đã được quy định tại Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK, trong đó miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện NK để sản xuất hàng hóa XK được quy định tại khoản 7 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK. Theo đó, không quy định miễn thuế XK đối với sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu NK.

Công ty TNHH MTV Đóng tàu và công nghiệp hàng hải Sài Gòn đề nghị có chính sách miễn thuế NK các loại máy móc, thiết bị, vật tư, phụ tùng phục vụ đóng tàu và sửa chữa mà trong nước chưa sản xuất được nhưng chưa được các tổ chức hàng hải quốc tế cấp chứng chỉ phù hợp.

Việc miễn thuế hàng hóa NK phục vụ hoạt động đóng tàu, tàu biển XK, Tổng cục Hải quan cho biết đã được quy định tại Điều 16 Luật Thuế XK, thuế NK, Điều 17 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Việc bổ sung chính sách miễn thuế NK trường hợp các loại máy móc, thiết bị, vật tư, phụ tùng phục vụ đóng tàu và sửa chữa trong nước chưa sản xuất được nhưng được các tổ chức hàng hải quốc tế cấp chứng chỉ phù hợp, Tổng cục Hải quan ghi nhận và để có cơ sở báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định, đề nghị DN bổ sung hồ sơ, tài liệu liên quan.

Công ty CP Bao bì Tín Thành phản ánh, DN bán bao bì nhựa cho Công ty Phú Khánh (DN được Tổng cục Hải quan ra quyết định là cửa hàng miễn thuế nằm trong khu cách ly sân bay Cam Ranh) bao bì sẽ sử dụng trong cửa hàng miễn thuế. Hiện nay cả DN và Công ty Phú Khánh đã tham vấn hải quan và chi cục thuế địa phương nhưng chưa thống nhất về thủ tục hải quan và có được miễn thuế hay không? Vậy đề nghị, Tổng cục Hải quan cho biết những văn bản nào quy định, hướng dẫn về thủ tục hải quan và chính sách thuế về trường hợp đã nêu trên?

Về vấn đề DN phản ánh, Tổng cục Hải quan cho biết, tại điểm c khoản 3 Điều 1 Quy chế về kinh doanh hàng miễn thuế ban hành kèm theo Quyết định số 24/2009/QĐ-TTg ngày 17/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Hàng hóa NK đã nộp thuế, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế được coi là hàng hóa XK và quản lý theo chế độ hàng tạm xuất; được lưu lại tại cửa hàng miễn thuế trong thời hạn không quá 365 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan đối với lô hàng XK”. Cũng tại khoản 1 và 2 Điều 4 Quy chế về kinh doanh hàng miễn thuế ban hành kèm theo Quyết định số 24/2009/QĐ-TTg ngày 17/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “1. Hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế không thuộc đối tượng chịu thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng; được miễn thuế nhập khẩu nếu là hàng nhập khẩu. 2. Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế được hoàn lại thuế theo quy định của pháp luật hiện hành”.

Về thủ tục hải quan, đề nghị DN thực hiện theo quy định tại Điều 15 Thông tư số 148/2013/TT-BTC ngày 25/10/2013 của Bộ Tài chính.

Tuy nhiên, Tổng cục Hải quan nhấn mạnh, do DN trình bày chưa rõ, chưa cụ thể số bao bì trên DN bán cho công ty kinh doanh hàng miễn thuế để bán cho khách mua hàng miễn thuế hay sử dụng vào mục đích khác, do vậy Tổng cục Hải quan cung cấp quy định pháp luật trên để DN tham khảo, nghiên cứu.

Đảo Lê

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn

KHÔNG KIỂM TRA CHUYÊN NGÀNH CHỒNG CHÉO ĐỐI VỚI MỘT MẶT HÀNG

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa giao các bộ liên quan phối hợp với cơ quan chức năng rà soát, thống nhất Danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành theo hướng không chồng chéo.

Kiểm tra chuyên ngành chiếm khoảng 70% thời gian làm thủ tục thông quan của doanh nghiệp. Ảnh minh hoạ

Cụ thể, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ giao Bộ Khoa học và Công nghệ, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn theo chức năng, nhiệm vụ được phân công phải phối hợp với cơ quan chức năng rà soát thống nhất Danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành theo hướng không chồng chéo đối với cùng một mặt hàng phải qua kiểm tra của nhiều cơ quan.

Phó Thủ tướng cũng giao các Bộ quản lý chuyên ngành liên quan khẩn trương ban hành Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành tại khâu thông quan theo đúng Nghị quyết số 19/2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ.

Đồng thời các bộ này phối hợp với bộ Công Thương, Tài chính, Tư pháp và cơ quan liên quan rà soát, làm rõ căn cứ pháp lý và mục đích yêu cầu của từng loại giấy tờ kiểm tra chuyên ngành. Trường hợp xác định loại chứng từ có tên gọi khác nhau nhưng bản chất nội dung kiểm tra tương tự nhau thì sửa đổi, điều chỉnh theo hướng thống nhất dùng một loại chứng từ để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện các công việc trên trong tháng 6 này.

Trước đó, để thống nhất việc đổi mới kiểm tra chuyên ngành phù hợp theo hướng giảm các loại giấy tờ, chứng nhận nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, đầy đủ các chỉ tiêu, yêu cầu cần thiết về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch, môi trường, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã giao Bộ Tài chính rà soát các mặt hàng xuất nhập khẩu hiện đang phải thực hiện cùng lúc nhiều thủ tục, cấp nhiều chứng từ kiểm tra chuyên ngành.

Theo báo cáo Bộ Tài chính, văn bản quy phạm pháp luật về kiểm tra chuyên ngành nhiều nhưng có lĩnh vực chưa đầy đủ, còn có sự chồng chéo trong quản lý và kiểm tra chuyên ngành.

Một mặt hàng chịu nhiều hình thức quản lý

Qua rà soát cho thấy có nhiều mặt hàng nhập khẩu phải đồng thời chịu nhiều hình thức quản lý, kiểm tra chuyên ngành do một bộ hoặc nhiều bộ quy định. Chẳng hạn, mặt hàng sữa chua, pho-mát phải chịu sự quản lý và kiểm tra chuyên ngành của hai bộ, vừa phải kiểm dịch động vật, vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm. Hay như các giống cây trồng, gạch, đá, kính phải kiểm tra chất lượng và cấp Giấy chứng nhận hợp quy; trang thiết bị y tế, thuốc, nguyên liệu sản xuất thuốc… vừa xin giấy phép nhập khẩu, vừa kiểm tra chất lượng.

Thậm chí mặt hàng phân bón phải chịu 3 loại quản lý/kiểm tra, gồm giấy phép nhập khẩu tự động, kiểm tra chất lượng, chứng nhận hợp quy.

Bên cạnh đó, có trường hợp một mặt hàng nhưng lại chịu nhiều hình thức quản lý của cùng một bộ quản lý chuyên ngành. Ví dụ mặt hàng kén tằm vừa phải kiểm dịch động vật và kiểm dịch thực vật; thịt và các sản phẩm từ thịt vừa phải kiểm dịch động vật, kiểm tra chất lượng, vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Mặt hàng thuốc và nguyên liệu sản xuất thuốc, trang thiết bị y tế vừa xin giấy phép nhập khẩu, vừa phải kiểm tra chất lượng của Bộ Y tế. Nồi hơi vừa phải kiểm tra tiêu chuẩn, điều kiện nhập khẩu và kiểm tra chất lượng/an toàn lao động. Đây cũng là mặt hàng chịu cùng một hình thức quản lý/kiểm tra của hai Bộ quản lý chuyên ngành, trong đó, Bộ Công Thương và Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội cùng kiểm tra chất lượng, Bộ Công Thương kiểm tra hiệu suất năng lượng.

Bộ Tài chính cho rằng việc nhiều bộ, ngành áp dụng cùng lúc nhiều chế độ, phương thức quản lý khác nhau đối với một mặt hàng  xuất khẩu, nhập khẩu không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm giảm năng lực cạnh tranh và mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp; làm phát sinh thủ tục hành chính, kéo dài thời gian thông quan, tăng biên chế của cơ quan quản lý, lãng phí ngân sách nhà nước mà đôi khi còn gây khó khăn cho chính cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thông quan hàng hóa.

Phương thức quản lý chưa thống nhất

Nguyên nhân của tình trạng chồng chéo trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành được Bộ Tài chính chỉ ra là do các bộ quản lý chuyên ngành chưa thống nhất trong phương thức quản lý; khi ban hành chưa đánh giá tác động đầy đủ. Danh mục hàng hóa thuộc diện phải kiểm tra quá rộng, không chi tiết tên hàng, không có mã số HS. Nhiều văn bản ban hành đã lâu, không còn phù hợp với thực tế nhưng chưa được bãi bỏ.

Các chế độ quản lý, kiểm tra đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu của các bộ, ngành quy định không thống nhất (về thủ tục, cách thức thực hiện), dẫn đến có nhiều loại chứng từ do các bộ quản lý chuyên ngành cấp cho hàng hóa xuất, nhập khẩu, nhưng không rõ chứng từ nào là giấy phép, giấy chứng nhận điều kiện xuất, nhập khẩu, giấy phép tự động, chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy, công bố sự phù hợp, xác nhận khai báo hóa chất…

Theo Nghị quyết số 19/2017/NQ-CP của Chính phủ, trong quý I/2017, các bộ phải ban hành Danh mục hàng hóa xuất, nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành tại khâu thông quan theo hướng kiểm tra ít nhất có thể, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian kiểm tra; chuyển mạnh sang hậu kiểm; rà soát, sửa đổi các quy định về tiếp nhận công bố hợp quy đối với hàng hóa nhập khẩu theo hướng bãi bỏ hoặc đơn giản hóa thủ tục; không yêu cầu tiếp nhận công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa chưa có quy chuẩn quốc gia…

Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho biết, đến nay chưa có bộ nào ban hành Danh mục hàng hóa theo hướng rút gọn mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành tại khâu thông quan.

Theo Chinhphu.vn

MỞ RỘNG THU THẬP THÔNG TIN ĐẾN DOANH NGHIỆP VẬN TẢI, KHO BÃI

(HQ Online)- Các DN trong chuỗi dây chuyền cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động XNK hàng hóa (gồm đại lý hải quan, DN vận tải, kho bãi…) cũng được Tổng cục Hải quan đặt trọng tâm triển khai thu thập thông tin trong năm 2017.

Cơ quan Hải quan thu thập, xử lý thông tin phục vụ áp dụng quản lý rủi ro. Trong ảnh: Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Thủy An, Cục Hải quan Thừa-Thiên Huế.  Ảnh: Q.H.​​​

Theo thông tin từ Cục Quản lý rủi ro (Tổng cục Hải quan), về cơ bản công tác thu thập, xử lý thông tin phục vụ quản lý rủi ro (QLRR) đã được quy định đầy đủ tại các văn bản Luật và các văn bản hướng dẫn dưới luật. Tuy nhiên, ở một số nhóm thông tin cơ quan Hải quan cần thu thập từ các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng ngoài ngành để hỗ trợ việc theo dõi nâng cao năng lực đánh giá tuân thủ, xếp hạng rủi ro DN và xác định trọng điểm vẫn chưa được đặc biệt chú trọng. Một số cục hải quan tỉnh, thành phố do đặc thù địa bàn lớn, nguồn lực có hạn, chưa bám sát đặc điểm tình hình tại địa bàn của đơn vị để xác định nhu cầu trọng tâm trong việc thu thập thông tin nên việc triển khai chưa thực sự hiệu quả.

 Cục Quản lý rủi ro cho rằng, việc thu thập thông tin liên quan đến DN hoạt động XNK cần tập trung vào xác định tình trạng hoạt động thực tế, các mối quan hệ trong và ngoài DN, tình hình vi phạm pháp luật do các cơ quan chức năng xử lý. Do vậy, các DN trong chuỗi dây chuyền cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động XNK hàng hóa (gồm đại lý hải quan, DN vận tải, kho bãi…) cũng được Tổng cục Hải quan đặt trọng tâm triển khai thu thập thông tin trong năm 2017.

Nhờ thu thập thông tin về các DN, Cục Quản lý rủi ro đã hướng dẫn các đơn vị Quản lý rủi ro cấp cục hải quan tỉnh, thành phố phân tích đánh giá rủi ro, xác định trọng điểm, chuyển thông tin để tổ chức thực hiện soi chiếu trước. Kết quả, lực lượng Hải quan các cấp đã “lật tẩy” nhiều lô hàng cất giấu hàng hóa cấm NK, gian lận thương mại. Các đơn vị đã tập trung phân tích thông tin, xác định chính xác một số lô hàng NK về Việt Nam có giấu ngà voi thông qua hoạt động “soi chiếu trước” và sự phối hợp kiểm tra thực tế hàng hóa của các lực lượng chức năng.

Việc ban hành Kế hoạch thu thập xử lý thông tin năm 2017 dựa trên nền tảng các văn bản quy định về QLRR, bám sát Kế hoạch Kiểm soát rủi ro của ngành Hải quan năm 2017 và những yêu cầu về thông tin phục vụ công tác nghiệp vụ trong năm 2017; tiếp thu và điều chỉnh từ kết quả triển khai thực tế năm 2016 tại các đơn vị hải quan trên toàn quốc.

Để công tác thu thập, xử lý thông tin QLRR phát triển toàn diện và chiều sâu, trở thành công tác nghiệp vụ cơ bản của ngành Hải quan, trong Kế hoạch thu thập, xử lý thông tin QLRR của ngành Hải quan năm 2017 đề ra mục tiêu thu thập, cập nhật, thẩm định thông tin, phê duyệt hồ sơ DN trên hệ thống được hoàn thành đối với 30.000 hồ sơ DN hoạt động XNK được chia làm 12 đối tượng DN khác nhau. Trong đó, cơ quan Hải quan đặt ra các tiêu chí cụ thể theo từng nhóm DN. Đơn cử như  70% DN hoạt động gia công, sản xuất hàng XK, chế xuất trên địa bàn; DN; 100% DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh; 100% DN làm dịch vụ trên địa bàn được xác định theo chuyên đề kiểm soát rủi ro. Bên cạnh đó, 100% DN kinh doanh kho ngoại quan; DN kinh doanh cảng, kho bãi; DN giải thể, phá sản, ngừng hoạt động… cũng được thực hiện thu thập, xử lý thông tin xây dựng hồ sơ DN.

Tổng cục Hải quan cũng đặt ra yêu cầu, thông tin được thu thập, cập nhật vào hệ thống hoặc cung cấp cho người có trách nhiệm phải đầy đủ, chính xác, kịp thời. Thông tin được lưu trữ, quản lý tập trung thống nhất tại Tổng cục Hải quan; được xử lý, cung cấp kịp thời cho đơn vị Hải quan các cấp trong thực hiện, áp dụng QLRR và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan. Theo đó, nguyên tắc chung của việc thu thập, xử lý thông tin QLRR phải được phân công cho tất cả các đơn vị, công chức có liên quan trên cơ sở phù hợp với chức năng nhiệm vụ theo quy định đối với từng cấp, đơn vị.

Quang Hùng

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

THU HÚT FDI ĐẠT MỐC 12 TỶ USD

(HQ Online)- Số liệu từ Tổng cục Thông kê cho biết, đến thời điểm 20/5/2017 đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã thu hút 939 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 5.595,4 triệu USD, tăng 3,5% về số dự án và giảm 26,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thu hút 939 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt gần 5,6 tỷ triệu USD.

Bên cạnh đó, có 437 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.742,9 triệu USD. Cũng trong 5 tháng đầu năm 2017 có 2.061 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 1.792 triệu USD.

Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 5 tháng đầu năm đạt 12.130,3 triệu USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng ước tính đạt 6,2 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 5 tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.863,4 triệu USD, chiếm 51,2% tổng vốn đăng ký cấp mới.

Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 5 tháng đầu năm đạt 8.092,5 triệu USD, chiếm 66,7% tổng vốn đăng ký.

Trong 5 tháng đầu năm, cả nước có 51 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Kiên Giang có số vốn đăng ký lớn nhất với hơn 1,3 tỷ USD, chiếm 23,3% tổng vốn đăng ký cấp mới. 

Trong số 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 5 tháng năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 1.538,6 triệu USD, chiếm 27,5% tổng vốn đăng ký cấp mới.

Hoài Anh

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

HÀNG QUÁ CẢNH CỦA LÀO CHỈ ĐƯỢC QUA CỬA KHẨU QUỐC TẾ

(HQ Online)- Kể từ ngày 26/5, hàng hóa quá cảnh của Lào qua Việt Nam chỉ được phép qua các cửa khẩu quốc tế.
Tuyến đường được vận chuyển hàng hóa quá cảnh thực hiện theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Ảnh: Quang Hùng.

Đây là nội dung chính của Thông tư 06/2017/TT-BCT của Bộ Công Thương sửa đổi, bổ sung Thông tư 22/2009/TT-BCT quy định về quá cảnh hàng hóa của Lào qua lãnh thổ Việt Nam.

Thông tư 06 cũng quy định, tuyến đường được vận chuyển hàng hóa quá cảnh thực hiện theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.

Việc sửa đổi này nhằm hướng dẫn thực hiện cam kết trong khuôn khổ Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Quá cảnh hàng hóa giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã được ký kết ngày 26/4/2017. Quy định trong Nghị định thư sẽ tạo thuận lợi hơn nữa cho hàng hóa quá cảnh giữa Việt Nam và Lào.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, thương mại 2 chiều giữa Việt Nam-Lào tính đến hết tháng 4 đạt 312 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt 178 triệu USD, nhập khẩu là 134 triệu USD. Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa trong 4 tháng đầu năm 2017 thặng dư 44 triệu USD nghiêng về phía Việt Nam.

Những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Lào gồm rau quả, bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc, than đá, xăng dầu các loại, sắt thép các loại, phương tiện vận tải và phụ tùng…, còn nhập khẩu quặng và khoáng sản khác, phân bón các loại, gỗ và sản phẩm gỗ, ngô từ Lào.

Phan Thu

Nguồn: http://www.baohaiquan.vn/

HẢI QUAN TP.HCM: PHÁT HIỆN TRÊN 600 VỤ VI PHẠM

(HQ Online)-Trong 600 vụ vi phạm pháp luật về hải quan do Cục Hải quan TP.HCM phát hiện, bắt giữ trong 5 tháng đầu năm 2017, có gần 100 vụ gian lận thương mại, buôn lậu qua cửa khẩu cảng biển, sân bay quốc tế.

Máy lạnh nhập lậu do Đội Kiểm soát Hải quan- Cục Hải quan TP.HCM bắt giữ ngày 24/5/2017. Ảnh: T.Hòa

Theo Cục Hải quan TP.HCM, từ đầu năm đến nay, đơn vị đã thực hiện tốt các kế hoạch chống buôn lậu và gian lận thương mại; phương án trọng điểm, địa bàn trọng điểm, doanh nghiệp và mặt hàng trọng điểm, rà soát hàng tồn đọng từ 30 đến 90 ngày… đã phát hiện và bắt giữ nhiều vụ vi phạm nhập khẩu hàng cấm, hàng kém chất lượng, khai sai số lượng, chủng loại tên hàng để trốn thuế. Đáng chú ý, các đơn vị hải quan cửa khẩu đã phát hiện nhiều vụ vi phạm với phương thức thủ đoạn cất giấu tinh vi…

Trong 5 tháng đầu năm 2017, Cục Hải quan TP.HCM đã phát hiện và lập biên bản vi phạm trên 600 vụ, trị giá trên 56,8 tỷ đồng. Trong đó, có gần 100 vụ buôn lậu và gian lận thương mại. Cục Hải quan TP.HCM đã khởi tố hình sự  9 vụ vi phạm, chuyển cơ quan Công an điều tra, xử lý.

Đáng chú ý, trong thời gian gần đây, Cục Hải quan TP.HCM phát hiện nhiều vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua loại hình hàng quá cảnh, hàng chuyển cảng và chuyển cửa khẩu. 

Lê Thu