QUY TẮC XUẤT XỨ: RÀO CẢN LỚN NHẤT CỦA XUẤT KHẨU DỆT MAY VÀO EU

(HQ Online)-Tại hội thảo Dệt may Việt Nam với quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại tự do EU –Việt Nam (EVFTA) do Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) phối hợp với Dự án EU-MUTRAP tổ chức ngày 20/4, tại TP.HCM, các chuyên gia cho biết việc tuân thủ quy tắc xuất xứ đang là trở ngại lớn nhất để hàng dệt may xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế tại thị trường này. 

Sản suất hàng dệt may XK tại Công ty May Sài Gòn 3
Nhận định về tình hình XK hàng dệt may vào thị trường EU trong thời gian qua, bà Đặng Phương Dung, Phó trưởng Ban cố vấn Vitas, Chuyên gia dự án EU-MUTRAP cho biết, mặc dù EU là thị trường nhập khẩu (NK) hàng dệt may lớn nhất thế giới nhưng lại là thị trường XK lớn thứ 2 của hàng dệt may Việt Nam (sau Mỹ). Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch XK hàng dệt may vào EU cũng như tỉ trọng hàng dệt may NK vào EU cũng còn rất nhỏ, điều này thể hiện năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn có vấn đề. Việc đàm phán và ký kết EVFTA là nhằm tạo thêm điều kiện giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh vào thị trường này.

Theo bà Đặng Phương Dung, việc XK hàng dệt may vào EU trong thời gian qua còn khó khăn do thị trường EU là thị trường khó tính, số lượng đơn hàng nhỏ, không lớn như Mỹ. Bên cạnh đó, các nhà NK có xu hướng mua sản phẩm trọn gói thay vì đặt gia công nên phần lớn các DN còn chưa có sức cạnh tranh như Việt Nam còn khó tiếp cận.

 EVFTA sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho DN mở rộng thị trường nhờ các chính sách ưu đãi về thuế, tuy nhiên theo bà Đặng Phương Dung, quy tắc xuất xứ đang là trở ngại lớn nhất cho hàng dệt may vào thị trường này khi có EVFTA có hiệu lực vì Việt Nam đang phải NK vải chủ yếu từ Trung Quốc. Thời gian qua Việt Nam đã kí kết nhiều FTA với ASEAN, Hàn Quốc, Nhận Bản với quy tắc xuất xứ từ vải trở đi, tuy nhiên khả năng sử dụng quy tắc xuất xứ của Việt Nam còn rất hạn chế. 

Tuy nhiên, EVFTA cho áp dụng quy định cộng gộp xuất xứ, cho phép các nhà XK của Việt Nam được sử dụng vải từ một nước thứ 3 có kí kết FTA với Việt Nam và EU (điển hình là Hàn Quốc) đang là một lối mở cho Việt Nam vì trong tương lai, việc các nước ASEAN gia tăng kí FTA với EU sẽ mở rộng nguồn nguyên liệu được hưởng ưu đãi thuế cho Việt Nam. 

 Bà Vũ Thị Phương, Phó tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, trong hai tháng đầu năm kim ngạch XK dệt may sang thị trường EU đạt 480 triệu USD, tăng gần 7% so với cùng kì năm 2016, đây được coi là một tín hiệu tích cực cho hoạt động XK hàng dệt may vào thị trường này. Mặc dù tỉ trọng XK hàng dệt may sang EU còn thấp (tính đến năm 2015 mới chỉ chiếm 1,9% tổng kim ngạch NK hàng dệt may của EU) do hàng dệt may vào EU còn phải chịu thuế suất cao từ 8-12%, nhưng với EVFTA, EU là thị trường tiềm năng của ngành dệt may XK. Vì khi hiệp định này có hiệu lực nhiều mặt hàng sẽ được giảm thuế về 0% và sau 7 năm tất cả các mặt hàng XK vào EU sẽ được giảm thuế về 0%. 

Theo ông Stefan Moser, chuyên gia Dự án EU-MUTRAP, để đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ theo EVFTA, các sản phẩm XK từ EU phải đáp ứng yêu cầu vải sản xuất tại Việt Nam hoặc từ EU, hoặc từ một nước thứ 3 có đã có FTA với Việt Nam và EU. Tuy nhiên, tỉ lệ tận dụng quy tắc xuất xứ cộng gộp song phương (NK vải từ EU về sản xuất rồi XK thành phẩm sang EU) rất ít vì vải của EU rất đắt và chi phí vận chuyển cao.

Cũng theo ông Stefan Moser các hoạt động chế biến không đủ như bảo quản sản phẩm, tháo và lắp ráp các gói hàng, đánh bóng…) không đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ nên nếu DN vẫn khai báo và xuất đi EU có thể bị phát hiện trong hậu kiểm của cơ quan chức năng châu Âu và sẽ bị truy thu và phạt.

 Theo các chuyên gia, cơ hội từ EVFTA là rất lớn nhưng để tận dụng được các DN phải đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ. Trong khi đó theo bà Vũ Thị Phương, thực tế tận dụng ưu đãi từ các FTA đã kí kết còn khá thấp. Hiện nay mới chỉ có 35% hàng XK của Việt Nam tận dụng được các cơ hội từ các FTA, 65% còn lại vẫn phải chiụ thuế suất cao. Nhằm hỗ trợ các DN, Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã tích cực tuyên truyền cung cấp thông tin về thị trường để các DN chuẩn bị. “Các quy định của FTA ngày càng ngặt nghèo và DN phải chuẩn bị kĩ càng mới có thể tận dụng được các cơ hội từ hội nhập”, bà Phương nhấn mạnh.

Nguyễn Huế

KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU TĂNG MẠNH ĐẠT GẦN 108 TỶ USD

(HQ Online)- Dù tổng trị giá kim ngạch cả xuất khẩu và nhập khẩu trong nửa đầu tháng 4 có sụt giảm so với 15 ngày cuối tháng 3 trước đó, nhưng xét tổng thể từ đầu năm đến nay, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta vẫn đang duy trì mức tăng trưởng cao và đạt trị giá kim ngạch gần 108 tỷ USD.
Hoạt động xuất nhập khẩu nước ta đang có những khởi đầu mạnh mẽ trong năm 2017. Trong ảnh, hoạt động xuất nhập nhập khẩu qua cảng Hải Phòng. Ảnh: T.Bình.
Hàng xuất khẩu chủ lực giảm

Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 4 đạt hơn 7,93 tỷ USD, giảm 16% (tương ứng giảm gần 1,51 tỷ USD) so với 15 ngày cuối tháng 3/2017.

Tính đến hết ngày 15/4 kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt  gần 52,51 tỷ USD, tăng 13,9% (tương ứng tăng hơn 6,42 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2016.

Căn cứ vào dữ liệu của cơ quan Hải quan có thể thấy, nguyên nhân cơ bản khiến kim ngạch xuất khẩu 15 ngày vừa qua giảm mạnh xuất phát từ sự biến động mạnh theo chiều hướng giảm ở nhiều nhóm hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta.

Đáng chú ý, 2 mặt hàng lớn là dệt may và máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong nửa cuối tháng 3 trước đó đều đạt trị giá kim ngạch hơn 1 tỷ USD nhưng sang nửa đầu tháng này đã bị sụt giảm mạnh.

Cụ thể, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 27,8%, tương ứng giảm 319 triệu USD (đạt 829,7 triệu USD); hàng dệt may giảm 20,4%, tương ứng giảm 255 triệu USD (chỉ đạt 879,6 triệu USD).

Bên cạnh đó, một số mặt hàng khác có mức sụt giảm mạnh như sắt thép các loại giảm 62,8%, tương ứng giảm 108 triệu USD; gỗ và và sản phẩm gỗ giảm 23,8%, tương ứng giảm 93 triệu USD…

Trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn của nước ta, chỉ có điện thoại và linh kiện có mức tăng trưởng nhẹ so với con số đạt 1,842 tỷ USD, tăng 53 triệu USD so với trước đó. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này chưa đủ sức kéo được tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước đi lên.

Liên quan đến hoạt động nhập khẩu, trị giá hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong cùng thời điểm trên đạt hơn 8,43 tỷ USD, giảm 11,9% so với 15 ngày cuối tháng 3. Tính đến hết ngày 15/4 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt hơn 55,07 tỷ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Hướng tới mốc 400 tỷ USD

Thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho thấy, tính đến hết ngày 15/4, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt hơn 107,58 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2016. Như vậy, đến nửa đầu tháng 4, tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đã vượt mốc 100 tỷ USD.

Theo dõi hoạt động ngoại thương cả nước những năm gần đây cho thấy chu kỳ “100 tỷ USD” trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu đang được rút ngắn nhanh chóng. Hết năm 2007, lần đầu tiên nước ta cán mốc 100 tỷ USD (cả năm đạt 111,2 tỷ USD).

Trong khi đó, theo dữ liệu của Tổng cục Hải quan (công bố từ năm 2009), thì trong năm 2009 phải mất 10 tháng nước ta mới đạt được dấu mốc này (hết tháng 10 đạt 102,589 tỷ USD); sang năm 2010 phải đến đầu tháng 9… và đến năm ngoái 2016 phải hết tháng 4.

Nhưng bước sang năm 2017, thời gian tiếp tục được giảm thêm 15 ngày. Với trị giá kim ngạch bình quân mỗi ngày đạt hơn 1 tỷ USD thì thời gian giảm thêm 15 ngày là hết sức có ý nghĩa.

Và nếu duy trì được mức tăng trưởng trên 18% như thời gian vừa qua, kết thúc năm 2017, tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ lần đầu tiên đạt và vượt mốc 400 tỷ USD (năm 2016 mới đạt hơn 350 tỷ USD).

Điều này là có cơ sở vì theo quy luật, hoạt động xuất nhập khẩu nước ta thường tăng trưởng mạnh vào những tháng cuối năm, nhất là trong quý III.

Sự tăng trưởng trên không chỉ chứng tỏ quy mô của hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta ngày càng lớn mà còn tạo được sự phát triển ổn định và đa dạng về cơ cấu, nhất là trong hoạt động xuất khẩu.

Trước đây hoạt động xuất khẩu dựa chủ yếu vào tài nguyên khoáng sản (dầu thô, than đá…) hay yếu tố lợi thế về lao động (dệt may, gia dày…) nhưng những năm gần đây chủng loại hàng hóa xuất khẩu đa dạng hơn với sự góp mặt của các mặt hàng công nghệ cao như điện thoại, máy vi tính, máy ảnh, phương tiện vận tải…

Thái Bình

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG

(HQ Online)- Thủ tục hành chính đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) sẽ được thống nhất, thuận tiện… là những mục tiêu quan trọng được đặ ra trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về thủ tục điện tử đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua NSW, đang được Tổng cục Hải quan chủ trì xây dựng.

Đại diện Cục CNTT và Thống kê hải quan giới thiệu các nội dung cơ bản, quan trọng liên quan đến quá trình xây dựng dự thảo Quyết định, tại buổi họp Tổ soạn thảo sáng 19/4. Ảnh: T.Bình.

Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Quyết định trước khi trình cấp có thẩm quyền ký ban hành, ngày 19/4, tại  Hà Nội, Tổng cục Hải quan tổ chức buổi họp của Tổ soạn thảo với sự tham dự của đại diện nhiều bộ, ngành liên quan như: Công an, Y tế, Giao thông vận tải…

Theo đại diện Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan), mục tiêu quan trọng được đặt ra trong quá trình xây dựng Quyết định là quy định thống nhất về hồ sơ khai báo; đơn giản hóa phương thức khai báo; đưa ra quy định phù hợp với thông lệ quốc tế đang áp dụng đối với thủ tục đường hàng không.

 
Theo Tổng cục Hải quan- Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, NSW và tạo thuận lợi thương mại, cập nhật đến cuối tháng 3/2017, đã có 11 bộ, ngành tham gia kết nối; 37 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính trên 290.000 bộ hồ sơ và hơn 10.000 DN tham gia.
 

Đại diện Cục CNTT và Thống kê hải quan cho biết thêm: Quá trình xây dựng dự thảo Quyết định, Tổng cục Hải quan đã có nhiều buổi làm việc trực tiếp với đại diện các hãng hàng không và tổ chức hai hội thảo để lấy ý kiến cộng đồng DN; đồng thời xây dựng dự thảo (lần 1) để lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan…

Tại buổi làm việc trong ngày hôm nay, các thành viên Tổ soạn thảo tập trung thảo luận, thống nhất một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau liên quan đến hình thức khai báo và xuất trình chứng từ; thời hạn khai báo và xử lý hồ sơ của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng hàng không, sân bay; các chứng từ khai báo trong thành phần hồ sơ làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh…

Liên quan đến việc thực hiện NSW qua đường hàng không, từ ngày 1/1/2017, Cục Hải quan Hà Nội bắt đầu thực hiện thí điểm tiếp nhận thông tin điện tử về hàng hóa từ Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), qua NSW. Từ 14/2, cơ quan Hải quan bắt đầu tiếp nhận toàn bộ thông tin về lịch khai thác bay từ cảng hàng không quốc tế Nội Bài gửi tới Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Theo thông tin mới đây từ Cục Hải quan Hà Nội, trong giai đoạn đầu triển khai thí điểm hệ thống CNTT của NSW đường hàng không, thông tin hàng hóa đã được Vietnam Airlines gửi tự động đến hệ thống Cổng thông tin một cửa quốc gia qua hộp thư điện tử. Cơ quan Hải quan đã tiếp nhận được danh sách lịch khai thác bay và thông tin chuyến bay (do DN cảng gửi).

Song song với việc triển khai và khắc phục những vấn đề phát sinh trong giai đoạn vừa qua, Cục Hải quan Hà Nội đang tiếp tục các khâu chuẩn bị để mở rộng thực hiện thí điểm NSW đường hàng không tại Nội Bài.

Ngày 5/4/2017, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai ký Quyết định 631/QĐ-BTC thành lập Tổ soạn thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về thủ tục điện tử đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh qua NSW.

Tổ soạn thảo có 29 thành viên do Phó Tổng cục Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình làm Tổ trưởng, các thành viên khác đến từ các bộ, ngành liên quan: Tài chính; Công an; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Giao thông vận tải; Y tế.

Thái Bình

SẼ KHÔNG CÓ THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN LUẬT THUẾ XK, THUẾ NK

(HQ Online)- Thay vì xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn một số quy định tại Luật Thuế XK, thuế NK và Nghị định 134/2016/NĐ-CP thì nay những hướng dẫn này sẽ được quy định tại dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC mà Tổng cục Hải quan đang triển khai xây dựng.

Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Thanh Thủy, Cục Hải quan Hà Giang. Ảnh: T.Trang.

Đó là thông tin mà bà Nguyễn Kim Thoa- Trưởng Phòng Chính sách thuế (Cục Thuế XNK- Tổng cục Hải quan) trao đổi với phóng viên Báo Hải quan.

Được biết, những nội dung liên quan đến Thuế XK, NK và quản lý thuế sẽ bãi bỏ các Điều 40, 42, 46, 105, 108, 109, 110, 112 và 113 tại Thông tư 38/2015/TT-BTC.

Theo đó, tại dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC sẽ hướng dẫn rõ một số quy định về Thuế XK, NK như: nộp tiền thuế khai bổ sung; căn cứ tính thuế; thực hiện kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra trị giá hải quan; xử lý kết quả tham vấn trị giá hải quan; bảo lãnh và đặt cọc tiền thuế; địa điểm, hình thức nộp thuế; thu nộp lệ phí hải quan; nộp tiền thuế ấn định đối với hàng hóa XK, NK; miễn thuế đối với hàng hóa NK để gia công; miễn thuế sản phẩm gia công XK; thông báo danh mục hàng hóa miễn thuế; các trường hợp hoàn thuế…

Thu Trang

GẦN 73% Ô TÔ NHẬP KHẨU TỪ THÁI LAN, ẤN ĐỘ VÀ INDONESIA

(HQ Online)- Đây là thông tin đáng chú ý về hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong quý I/2017, vừa được Tổng cục Hải quan công bố.
Biểu đồ sản lượng, trị giá kim ngạch từ 12 thị trường nhập khẩu ô tô trong quý I/2017. Biểu đồ: T.Bình.
Theo đó, tháng 3/2017 cả nước nhập khẩu 11.185 ô tô nguyên chiếc các loại, trị giá 180 triệu USD, tăng 39,3% về lượng và tăng 13,9% về trị giá so với tháng trước.

Qua đó, đến hết quý I, cả nước nhập khẩu 26.506 ô tô nguyên chiếc các loại, trị giá 488 triệu USD, tăng 34,4% về lượng nhưng chỉ tăng 1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

Trong đó lượng nhập khẩu ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống là 16.310 xe, tăng 136% và chiếm gần 62% tổng lượng ô tô nhập khẩu của cả nước; ô tô tải đạt hơn 8.800 xe, giảm 10,2%; ô tô trên 9 chỗ ngồi là 170 xe, giảm 10,2% và ô tô loại khác là 1.200 xe, giảm 56,1%.

Xét về khía cạnh thị trường, lượng ô tô nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia ASEAN trong 3 tháng đầu năm 2017 là 14.460 xe, tăng 67,6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó ô tô nhập khẩu xuất xứ từ Thái Lan là 10.050 xe, tăng 28,8% và từ Indonesia là 4.409 xe, trong khi con số của cùng kỳ năm trước chỉ là 833 chiếc.

Ngoài ra, trong 3 tháng qua, Việt Nam cũng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ thị trường Ấn Độ tăng gấp 4 lần, với gần 4.798 xe.

Như vậy, chỉ riêng 3 thị trường kể trên chiếm tới gần 73% tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu cả nước trong quý I.

Căn cứ dữ liệu của cơ quan Hải quan, trong quý I có 12 thị trường cung cấp ô tô nguyên chiếc cho Việt Nam. Ngoài 3 thị trường lớn kể trên còn 2 thị trường có số lượng ô tô nhập khẩu từ 1.000 xe trở lên là Hàn Quốc đạt 2.964 xe; Nhật Bản đạt 1.053 xe.

Thái Lan tiếp tục duy trì vị thế số một cả về sản lượng và trị giá kim ngạch ô tô nhập khẩu (kim ngạch đạt hơn 179,5 triệu USD).

Trong khi đó, Indonesia đứng thứ 3 về sản lượng, nhưng trị giá kim ngạch đứng thứ 2 (đạt hơn 76,5 triệu USD). Thị trường có kim ngạch lớn thứ 3 là Hàn Quốc với trị giá đạt hơn 44,8 triệu USD (đứng thứ 4 về sản lượng).

Đáng chú ý, Ấn Độ dù là thị trường có sản lượng lớn thứ 2, nhưng trị giá kim ngạch chỉ đạt hơn 18,3 triệu USD, đứng vị trí thứ 8.

Thái Bình

LẦN ĐẦU TIÊN CÓ 9 NHÓM HÀNG XUẤT KHẨU “TỶ USD” TRONG QUÝ I

(HQ Online)- Lần đầu tiên kết thúc quý I cả nước có 9 nhóm hàng đạt trị giá kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên, tăng 1 nhóm hàng so với cùng kỳ 2016.
Biều đồ trị giá kim ngạch 9 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đến hết quý I, đơn vị tính “tỷ USD”. Biểu đồ: T.Bình.
Thông tin mới nhất từ Tổng cục Hải quan cho thấy, nhóm hàng mới nhất đạt trị giá kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên qua 3 tháng đầu năm là mặt hàng cà phê. Hết quý I, nhóm hàng này đạt trị giá kim ngạch 1,029 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong số 9 nhóm hàng xuất khẩu “tỷ USD” điện thoại vẫn là nhóm hàng dẫn đầu với trị giá kim ngạch đạt 7,774 tỷ USD. Nhưng đây cũng là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực duy nhất có mức tăng trưởng âm với mức giảm 6,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi đó, hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu lớn khác của nước ta đều có mức tăng trường cao 2 con số so với cùng kỳ năm 2016.

Đáng chú ý, nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện có mức tăng trưởng cao nhất lên đến 47,8% (tương đương con số tuyệt đối 1,786 tỷ USD), kéo theo trị giá kim ngạch trong quý I đạt 5,519 tỷ USD.

Dù vẫn đứng thứ ba cả nước về xuất khẩu, nhưng khoảng cách giữa nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với mặt hàng đứng kế trên là dệt may đã được thu hẹp đáng kể chỉ còn 104 triệu USD (trong khi đó sự chênh lệch của quý I/2016 lên đến 1,377 tỷ USD).

Với tổng trị giá kim ngạch đạt 30,972 tỷ USD, 9 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đóng góp tới gần 70% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong cùng thời điểm.

Nhìn vào kết quả xuất khẩu quý I vừa qua có thể thấy, hoạt động kinh tế quan trọng này của nước ta đang có những chuyển biến tích cực với nhiều khởi sắc.

Đó là, nhiều nhóm hàng xuất khẩu chủ lực tăng trưởng cao; đồng thời hoạt động xuất khẩu không còn bị phụ thuộc lớn vào một số ít nhóm hàng như điện thoại hay dệt may như những năm trước.

Một tín hiệu lạc quan khác là sự xuất hiện ngày càng nhiều, càng rõ nét và đóng góp quan trọng của những nhóm hàng công nghiệp công nghệ cao như: Điện thoại; máy vi tính, sản phẩm điện tử; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải; máy ảnh, máy quay phim…

Theo Tổng cục Hải quan, hết quý I, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 44,638 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2016.

 

Thái Bình

HÃNG HÀNG KHÔNG VIỆT SẮP MỞ ĐƯỜNG BAY THẲNG TỚI MỸ

Vietnam Airlines đã chuẩn bị mở đường bay thẳng sang Mỹ cách đây gần 10 năm nhưng chưa thực hiện được…

Hãng hàng không Việt sắp mở đường bay thẳng tới Mỹ

Việt Nam đang duy trì theo các tiêu chuẩn an toàn hàng không của ICAO, nhưng để được FAA phê chuẩn CAT1 thì phải nâng tiêu chuẩn theo quy định của Mỹ.

KIỀU LINH

Vietnam Airlines đã chuẩn bị mở đường bay thẳng sang Mỹ cách đây gần 10 năm nhưng chưa thực hiện được do nhiều cản trở. Trong đó có việc cơ quan chức trách Việt Nam chưa đạt năng lực giám sát an toàn theo tiêu chuẩn của Mỹ.

Thông tin mới nhất từ Cục Hàng không Việt Nam cho biết, Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) sẽ đến Việt Nam rà soát kỹ thuật vào tháng 5 tới. Đây là tiền đề để các hãng hàng không nước ta được mở đường bay thẳng đến Mỹ, không phải quá cảnh ở nước thứ 3.

“Hiện, chúng tôi đã sẵn sàng cho đợt rà soát kỹ thuật này. Kết quả tích cực của đợt rà soát sẽ là cơ sở quan trọng cho đợt Đánh giá an toàn hàng không toàn cầu (IASA) sắp tới của FAA với Cục Hàng không Việt Nam trước khi cấp phê chuẩn CAT1”, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Lại Xuân Thanh nói.

Việt Nam đang duy trì theo các tiêu chuẩn an toàn hàng không của ICAO, nhưng để được FAA phê chuẩn CAT1 thì phải nâng tiêu chuẩn theo quy định của Mỹ.

Công việc đầu tiên và quan trọng nhất là hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống các tài liệu hướng dẫn liên quan đến an toàn và giám sát an toàn.

Kế đó, phải xây dựng đội ngũ giám sát viên an toàn hàng không đảm bảo cả số lượng và chất lượng, xây dựng chương trình đào tạo, huấn luyện giám sát viên từ cơ bản đến nâng cao. Xây dựng kế hoạch, chương trình để có thể kiểm soát toàn bộ công việc, kết quả làm việc của giám sát viên.

Theo ông Lại Xuân Thanh, đội ngũ giám sát viên an toàn hàng không hiện nay đều được cử đi đào tạo cả trong và ngoài nước để có được hàng loạt các chứng chỉ theo yêu cầu của phía FAA.

“Trước đây, Cục Hàng không Việt Nam không có phi công nào là công chức, nhưng bây giờ, theo tiêu chuẩn của FAA, phải có tối thiểu 2 giám sát bay (là phi công) làm việc toàn thời gian. Các giám sát viên phải thực hiện đầy đủ tất cả quy trình, nội dung giám sát với cả việc khai thác tàu bay cũng như đảm bảo tiêu chuẩn đủ điều kiện bay của tàu bay”, ông Thanh thông tin thêm.

Ngoài ra, Cục Hàng không Việt Nam cũng phải hoàn thiện hệ thống chế tài, vừa xử phạt vi phạm hành chính, vừa khuyến cáo, kiểm soát việc thực hiện khuyến cáo của nhà chức trách hàng không đối với việc đảm bảo an toàn…

Sau khi đạt CAT1, Cục Hàng không Việt Nam sẽ được phép giám sát các hãng hàng không có trụ sở tại nước ta nhằm bảo đảm sự tuân thủ các quy chế và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế để có thể bay thẳng đến Mỹ, không phải quá cảnh ở nước thứ ba.

Hiện tại, hãng hàng không Vietnam Airlines đã nộp hồ sơ xin cấp phép bay thương mại lên Bộ Giao thông Vận tải Mỹ. Trên cơ sở đánh giá CAT1 của FAA, Vietnam Airlines sẽ nghiên cứu, lập kế hoạch khai thác đến thị trường Mỹ vào thời điểm thích hợp, dự kiến vào cuối năm 2018.

Thống kê cho thấy, năm 2016, tổng dung lượng thị trường giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đạt 689.000 khách. Tăng trưởng trung bình giai đoạn 2010 – 2016 đạt 8,4%/năm. Trong đó, dung lượng khách giữa Việt Nam – Los Angeles là lớn nhất với 137.000 lượt khách, Việt Nam – San Francisco lớn thứ 2, đạt hơn 90.000 khách/năm.

NHẬP SIÊU KHIẾN GIA TĂNG ÁP LỰC LÊN TỶ GIÁ

(HQ Online)- Tuy tỷ giá những tháng đầu năm được đánh giá là tương đối ổn định, nhưng nếu so với cùng kỳ năm trước, tỷ giá đang có mức tăng cao. Điều này đặt ra lo ngại, liệu đây có phải do sự ảnh hưởng của việc nhập siêu.

Tình trạng nhập siêu khiến cầu USD tăng mạnh hơn so với năm trước. Ảnh: H.DỊU.

Tỷ giá đã tăng

Theo số liệu thống kê hàng hóa XNK của Tổng cục Hải quan, tính đến hết quý I/2017, tổng kim ngạch XNK đạt hơn 91,21 tỷ USD, tăng 19,9%, tương ứng tăng gần 15,16 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, tổng kim ngạch XK của Việt Nam đạt gần 44,64 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm ngoái; tổng kim ngạch NK đạt hơn 46,57 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2016. Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa cả nước 3 tháng đầu năm 2017 đã thâm hụt gần 1,94 tỷ USD, bằng 4,3% kim ngạch XK. Trong khi đó, vào cùng kỳ năm 2016, cả nước đã xuất siêu 776 triệu USD.

Tình hình nhập siêu quay trở lại đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng GDP trong quý I/2017, khi GDP quý này tăng thấp đáng kể so với kỳ vọng, thấp nhất trong 3 năm qua, chỉ đạt 5,1%, trong khi cùng kỳ năm trước là 5,5%. Một trong những vấn đề đáng lo ngại của tình trạng nhập siêu là việc có thể đẩy tỷ giá ngoại tệ lên cao hơn so với thời gian trước.

Trên thực tế, tỷ giá trong 3 tháng đầu năm đã có diễn biến tăng. Tính đến ngày 17/4, tỷ giá trung tâm giữa VND và USD được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố ở mức 22.322 VND/USD, tăng 3 đồng so với phiên giao dịch cuối tuần trước, nhưng đã đạt mức cao nhất kể từ khi NHNN bắt đầu công bố tỷ giá trung tâm. Đây là kết quả của việc tăng liên tiếp của tỷ giá trung tâm từ cuối tháng 3, khiến tỷ giá trung tâm liên tục đạt “đỉnh”. So với mức tỷ giá trung tâm công bố từ đầu năm 2017, tỷ giá trung tâm đã tăng lên tới 164 đồng, tương ứng tăng gần 1%.

Với biên độ ±3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng được áp dụng cho ngày 17/4 là 22.993 VND/USD. Trong khi đó, tỷ giá bán ra đang được các ngân hàng thương mại niêm yết đang ở quanh mức 22.730-22.750 VND/USD, còn cách mức trần khoảng 200 đồng. Báo cáo tình hình kinh tế vĩ mô quý I và dự báo cả năm 2017 của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết, tỷ giá VND/USD tại các ngân hàng thương mại có xu hướng giảm trong tháng 1/2017, nhưng sau đó có nhiều biến động khi liên tiếp tăng cao từ nửa đầu tháng 2 cho tới nay và luôn tiệm cận sát với mức trần NHNN công bố.

Áp lực cao

Trong thông cáo phát đi, NHNN vẫn khẳng định sẽ tiếp tục điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, kết hợp điều tiết linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, duy trì thanh khoản và lãi suất VND liên ngân hàng ở mức hợp lý nhằm hỗ trợ ổn định tỷ giá và không gây sức ép đến lãi suất thị trường 1 (thị trường huy động vốn từ dân cư, tổ chức). Nhờ đó, tỷ giá vẫn thấp xa so với mức trần và từ giữa tháng 3 bắt đầu giảm và ổn định. Về vấn đề này, TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, NHNN đang điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng và giữ được thế chủ động trong việc kiểm soát thị trường ngoại hối, nên đã đạt được mục tiêu giữ ổn định tỷ giá. Theo đó, NHNN đã nhiều lần chặn đà tăng và giảm của tỷ giá của các ngân hàng thương mại bằng việc điều chỉnh giá ngoại tệ giao dịch tại Sở Giao dịch NHNN.

Mặc dù vậy, với những biến động của thị trường thế giới, ngay từ đầu năm, các chuyên gia đều tỏ ra không mấy lạc quan về sự ổn định của tỷ giá trong cả năm 2017. TS. Đinh Tuấn Minh, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Nghiên cứu Thị trường MarketIntello cho rằng, trong năm 2017, tỷ giá sẽ tăng khoảng 1,5-2%. Khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) nâng tỷ giá 2 lần nữa trong năm vào tháng 6 và tháng 9 có thể sẽ tiếp tục gây áp lực lên tỷ giá. Ngoài ra tình trạng nhập siêu cũng sẽ khiến cầu USD tăng mạnh hơn năm 2016.

Báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia không đánh giá cao áp lực của việc FED tăng lãi suất do hiện nay chênh lệch giữa lãi suất huy động VND và USD vẫn nghiêng về việc nắm giữ VND. Nhưng báo cáo cũng cho rằng, cung ngoại tệ có thể kém thuận lợi hơn năm 2016, nguyên nhân bởi cán cân thương mại có thể đảo chiều từ mức thặng dư trong năm 2016 sang thâm hụt dự báo ở mức cao (theo kế hoạch khoảng 3,5% tổng kim ngạch XK). Hơn nữa, áp lực còn đến từ cán cân vốn có thể chịu tác động khi vốn ODA bị hạn chế kể từ tháng 7/2017.

“Tuy nhiên, VND sẽ không bị mất giá nhiều nhờ nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào của NHNN”, TS. Đinh Tuấn Minh nhận định.

Những nhận định trên cho thấy áp lực không chỉ lên tỷ giá mà còn lên hoạt động XNK tại Việt Nam thời gian tới. Theo TS. Đinh Tuấn Minh, cùng với việc cầu tiêu dùng nội địa yếu thời gian vừa qua, XK sẽ là một trong những yếu tố then chốt giúp Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,7% trong năm 2017. Vì thế, Chính phủ và các cơ quan quản lý phải có chính sách thương mại thích hợp, bảo đảm cho hàng hóa XK của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới sẽ là tập trung củng cố các thị trường có tốc độ tăng trưởng cao như Hoa Kỳ và châu Âu vì tiềm năng tại các thị trường này còn lớn; ngoài ra, cần đa dạng hóa thị trường XK và hướng tới các thị trường có Hiệp định Thương mại tự do (FTA) tiềm năng có tốc độ tăng trưởng cao như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Nhật Bản và ASEAN.

Hương Dịu

THỐNG NHẤT QUY TRÌNH PHÂN LOẠI HÀNG HÓA ĐỂ CHỐNG THẤT THU

(HQ Online)- Nâng cao hiệu quả quản lý khai báo mã số hàng hóa song song với việc hoàn thiện chính sách về mặt hàng là công việc quan trọng mà ngành Hải quan đã và đang triển khai để phòng ngừa và chống thất thu thuế qua khai báo phân loại hàng hóa. Hoạt động này không chỉ đảm bảo chống thất thu cho NSNN mà còn giúp tạo điều kiện lành mạnh hoá môi trường cạnh tranh trên thị trường nội địa…

Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Thái Nguyên (Cục Hải quan Bắc Ninh). Ảnh: T.Trang.
 
Một trong những công tác trong tâm trong công tác phân loại là Cục Thuế XNK đang hoàn thiện Thông tư của Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hóa XK, NK Việt Nam (thay thế thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 1-7-2015). Đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác phân loại hàng hóa để Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam theo Danh mục AHTN 2017, Biểu thuế MFN và các Biểu thuế FTA, các danh mục quản lý chuyên ngành theo AHTN 2017 đảm bảo đồng bộ và hợp nhất, hỗ trợ cho công tác phân loại hàng hóa được thuận lợi và chính xác.
 

Phân loại hàng hóa XK, NK là việc căn cứ vào tên gọi, mô tả về tính chất, thành phần, cấu tạo, công dụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác của hàng hóa để xác định, sắp xếp hàng hóa vào một mã số nhất định theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa, Danh mục hàng hóa XK, NK Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Từ các mã số hàng hóa này sẽ tương ứng với mức thuế XK, NK theo Biểu thuế XK, NK. Quy trình phân loại hàng hóa này đã thống nhất được các quan điểm phân loại hàng hóa khác nhau giữa các đơn vị trước khi ban hành thông báo kết quả phân loại hàng hóa. Qua đó, hình thành được hệ thống phần mềm MHs lưu giữ kết quả PTPL trong toàn ngành, hải quan địa phương có thể dễ dàng tra cứu các kết quả phân loại hàng hóa.Cùng với đó, quy định về xác định trước mã số hàng hóa, xuất xứ của hàng hóa được Tổng cục Hải quan triển khai thời gian qua cũng đã giúp DN chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, đồng thời giúp cơ quan Hải quan tăng hiệu quả quản lý. Hầu hết hồ sơ gửi đến đều được Cục Thuế XNK giải quyết trong thời hạn 30 ngày, những trường hợp hàng hóa phức tạp cũng được giải quyết trong thời hạn tối đa 60 ngày.

Việc thực hiện quy định xác định trước mã số hàng hóa mang lại lợi ích cho cả Hải quan và DN. Cơ quan Hải quan nâng cao năng suất và hiệu quả quản lý nhờ đẩy nhanh tốc độ thông quan hàng hóa, phân bổ nguồn lực hợp lý vào các giai đoạn trước, trong và sau thông quan. Trong khi đó, DN sẽ căn cứ vào những thông tin được cung cấp trước có tính ràng buộc pháp lý để nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch kinh doanh và tính toán lợi nhuận. Điều này làm tăng độ chắc chắn và có thể dự doán được cho các DN khi tham gia các giao dịch thương mại quốc tế… Những thông báo phân loại hàng hóa cũng được cập nhật trên Website của Tổng cục Hải quan để giúp DN thuận tiện hơn trong việc tham khảo áp dụng vào việc phân loại hàng hóa của chính DN.

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua vẫn có tình trạng DN khai sai mã số hàng hóa để hưởng mức thuế thấp hơn hoặc cũng có tình trạng tại 1 đơn vị hải quan vẫn chấp nhận việc DN phân loại hàng hóa vào những mã số hàng khác với những mặt hàng có cùng đặc tính, chủng loại.

 
Danh mục quản lý rủi ro về phân loại được Tổng cục Hải quan xây dựng và triển khai trong toàn ngành, trong đó bao gồm khoảng 380 mặt hàng cấp độ 8 chữ số và 7 nhóm hàng cấp độ 6 chữ số bao gồm cả hàng NK và XK. Đây là tài liệu quan trọng, là công cụ quản lý trong công tác phân loại hàng hóa của cơ quan Hải quan trong cả khâu trong và sau thông quan.
 

Lý giải thực này, ông Trịnh Mạc Linh- Phó Cục trưởng Cục Thuế XNK-Tổng cục Hải quan phân tích, hiện nay hàng hóa XNK ngày càng đa dạng về chủng loại, công nghệ, đặc biệt là sự xuất hiện của những mặt hàng đa chức năng, đa công dụng. Vì vậy, công tác phân loại của cơ quan Hải quan gặp không ít khó khăn, bởi nhận thức về bản chất hàng hóa có nhiều ý kiến khác nhau, hơn thế nữa nhân lực của cơ quan Hải quan làm công tác phân loại hàng hóa còn hạn chế.Cũng trong thời gian qua, đã có những mặt hàng NK phức tạp, có nhiều ý kiến trái chiều như các mặt hàng: Đồ uống không có ga, đồ uống có chứa collagen; kem bôi sẹo; trứng artemia- làm thức ăn chăn nuôi; thiết bị kết nối dùng cho internet; máy điều hòa không khí âm trần; dụng cụ mài lưỡi dao; đá cẩm thạch… Để phân loại đúng bản chất mặt hàng này, Cục Thuế XNK đã nhiều lần phải xin ý kiến cơ quan chuyên môn và phải tổ chức họp bàn. Có những mặt hàng phức tạp, Tổng cục Hải quan còn phải tổ chức đối thoại với DN để  vừa lắng nghe vừa đưa ra được hướng dẫn trong việc phân loại hàng hóa.

Theo ông Trịnh Mạc Linh, để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phân loại hàng hóa, áp dụng mức thuế, đảm bảo thực hiện phân loại hàng hóa thống nhất trên phạm vi toàn quốc, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp khai báo và áp mã số, mức thuế không thống nhất… là mục tiêu mà ngành Hải quan sẽ triển khai trong công tác phân loại, xác định mức thuế trong năm 2017.

Thực hiện mục tiêu này, Cục Thuế XNK đã tổ chức rà soát trên hệ thống thông tin dữ liệu liên quan để phát hiện ngăn chặn, xử lý kịp thời việc thực hiện không đúng quy định về phân loại, áp dụng mức thuế theo các biểu thuế hiện hành; kiểm tra thực tế về công tác phân loại hàng hóa tại một số đơn vị hải quan địa phương… Cục đã ban hành công văn hướng dẫn kiểm tra phân loại hàng hóa để thống nhất thực hiện trong toàn ngành, trong đó hướng dẫn chi tiết từng bước kiểm tra trong tất cả các khâu thông quan và sau thông quan.

Bên cạnh đó, Cục sẽ tập trung xử lý vướng mắc có liên quan công tác phân loại, mức thuế của hải quan địa phương, DN kịp thời, theo đúng quy định. Đồng thời, chủ động bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho CBCC để nâng cao hiệu quả công tác, đảm bảo thực hiện công tác phân loại hàng hóa đúng quy định.

Cùng với đó, phối hợp với Cục CNTT thực hiện, vận hành, khai thác có hiệu quả Hệ thống MHs, phối hợp nâng cấp Hệ thống phù hợp với văn bản chính sách mới ban hành cũng như thực tế khai thác, sử dụng. Song song với đó là thường xuyên rà soát, sửa đổi, cập nhật Danh mục hàng hóa XNK rủi ro về phân loại. 

Thu Trang

NHỮNG NHÓM HÀNG XUẤT KHẨU CHÍNH QUÝ I/2017

(HQ Online)- Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong quý I/2017 đạt gần 31,76 tỷ USD, chiếm 71,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện là nhóm hàng lớn nhất, tuy nhiên giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước, còn lại hầu hết các nhóm hàng trong 10 nhóm hàng lớn nhất đều đạt mức tăng trưởng dương.

 

 

10 Nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất quý I năm 2017 so với cùng kỳ 2016

Điện thoại các loại và linh kiện: Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 3/2016 đạt 3,09 tỷ USD, tăng 31% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong quý I/2017 lên 7,77 tỷ USD, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam trong 3 tháng qua bao gồm: EU với 2,38 tỷ USD, giảm gần 6,1% và chiếm 30,6% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là: Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất: gần 901 triệu USD, giảm 19,9%; Hàn Quốc: 755 triệu USD, tăng 32,8%; Hoa Kỳ: 620 triệu USD, giảm 43%… so với cùng kỳ năm 2016.

Hàng dệt may: Xuất khẩu trong tháng đạt 2,1 tỷ USD, tăng mạnh 51,6% so với tháng trước, qua đó nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng/2017 lên 5,62 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 3 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,72 tỷ USD, tăng 8,1 %; sang EU đạt 733 triệu USD, tăng 6,6%; sang Nhật Bản đạt 715 triệu USD, tăng 12,4% và sang Hàn Quốc: 617 triệu USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Xuất khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 3/2017 đạt mức cao nhất từ trước tới nay với kim ngạch là 2,19 tỷ USD, tăng 27,5% so với tháng trước. Qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của 3 tháng lên 5,52 tỷ USD, tăng cao 47,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Trung Quốc vẫn là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 3 tháng qua với kim ngạch đạt 1,37 tỷ USD, tăng cao 123,5%; tiếp theo là EU: 1,04 tỷ USD, tăng 12,3%. Tính riêng xuất khẩu sang 2 thị trường này chiếm đến 44% tổng kim ngạch xuất khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện của cả nước.

Giầy dép các loại: Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt hơn 1,09 tỷ USD, tăng 26,6% so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong quý I/2017 đạt gần 3,12 tỷ USD, tăng 11,9% so với tháng trước.

Các thị trường nhập khẩu giầy dép các loại của Việt Nam trong quý I/2017 chủ yếu gồm: thị trường Hoa Kỳ với 1,07 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước; thị trường EU (28 nước) đạt 988 triệu USD, tăng 9,9%; thị trường Trung Quốc đạt 240 triệu USD, tăng 28,5%;…

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: Đạt kim ngạch xuất khẩu trong tháng gần 1,13 tỷ USD, tăng 24,3% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu cả quý là gần 2,91 tỷ USD, tăng 37,5% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác của Việt Nam trong quý I/2017 chủ yếu gồm: thị trường Hoa Kỳ với 602 triệu USD, tăng 26,7%; thị trường Nhật Bản đạt 402 triệu USD, tăng 14,5%; thị trường Trung Quốc với 370 triệu USD, tăng 85,6%;…

Hàng nông sản (bao gồm các nhóm hàng: hàng rau quả; hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn): Xuất khẩu hàng nông sản trong tháng 3/2017 đạt 1,59 tỷ USD, đưa kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản trong quý I/2017 đạt 3,94 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường nhập khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong quý I/2017 chủ yếu gồm: Thị trường Trung Quốc với 1,47 tỷ USD, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước; thị trường EU (28 nước) với 748 triệu USD, tăng 24,8%; thị trường Hoa Kỳ với 457 triệu USD, tăng 23,5%; thị trường ASEAN với 371 triệu USD, giảm 17,5%; thị trường Nhật Bản với 92 triệu USD, tăng 17%; thị trường Hàn Quốc với 86 triệu USD, tăng 52%;…

Xuất khẩu hàng rau quả trong tháng đạt 280 triệu USD, tăng 49,5% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu quý I/2017 đạt 701 triệu USD, tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu hạt điều trong tháng đạt được mức tăng trưởng mạnh cả về lượng và trị giá, với 24 nghìn tấn, trị giá 230 triệu USD, tăng 80,1% về lượng và 88% về trị giá so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong quý I/2017 đạt 56 nghìn tấn, trị giá 515 triệu USD, giảm 4,6% về lượng nhưng tăng 16,9% về trị giá.

Xuất khẩu cà phê trong tháng đạt 168 nghìn tấn, trị giá 382 triệu USD; tăng 14,8% về lượng và 15,1% về trị giá, đưa kim ngạch xuất khẩu trong 3 tháng/2017 đạt 454 nghìn tấn, trị giá gần 1,03 tỷ USD, giảm 4,3% về lượng, tuy nhiên lại tăng 27,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Gạo xuất khẩu trong tháng đạt 551 nghìn tấn, trị giá 251 triệu USD, tăng 38,8% về lượng và 47,2% về trị giá so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch xuất khẩu gạo 3 tháng/2017 đạt 1,29 triệu tấn, trị giá 565 triệu USD, giảm 17,5% về lượng và 17,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Cao su trong tháng xuất khẩu được 66 nghìn tấn, trị giá 138 triệu USD, giảm 26,8% về lượng và 27,9% về trị giá, đưa kim ngạch xuất khẩu trong quý I của nhóm hàng này đạt 250 nghìn tấn, trị giá 511 triệu USD, tăng 6,7% về lượng tuy nhiên tăng 90,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Hàng thủy sản: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tháng 3/2017 đạt 603 triệu USD, tăng 41,6% tháng trước, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng/2017 lên 1,51 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến hết tháng 3, hàng thủy sản của Việt Nam tăng trưởng ở hầu hết các thị trường chính trừ thị trường Hoa Kỳ. Cụ thể, xuất sang Nhật Bản: 253 triệu USD, tăng 29,3%; Hoa Kỳ: 251 triệu USD, giảm 14,4%, sang Liên minh Châu Âu (EU): 249 triệu USD, tăng 2,3%; Trung Quốc: 144 triệu USD tăng 20,9% và Hàn Quốc: 141 triệu USD, tăng 26,4%…

Dầu thô: Lượng xuất khẩu dầu thô trong tháng là 470 nghìn  tấn, giảm 11,8%, trị giá là 181 triệu USD, giảm 18,3% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 3/2017, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 1,52 triệu tấn, giảm 16,2% và kim ngạch đạt 637 triệu USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước.

Dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc: 704 nghìn tấn, giảm 39,8%; sang Nhật Bản: 237 nghìn tấn, tăng 206,9%; sang Sing-ga-po: 193 nghìn tấn (cùng kỳ năm 2016 không có lô dầu thô nào được xuất sang quốc gia này)…

Than đá: Xuất khẩu than đá của Việt Nam trong tháng 3/2017 đạt 194 nghìn tấn, tăng 45,2% so với tháng trước, trị giá đạt 30 triệu USD, tăng 31,8%. Trong 3 tháng đầu năm 2017, lượng than đá xuất khẩu là 401 nghìn tấn, tăng 5,1 lần và  đạt trị giá đạt gần 65 triệu USD, tăng 12 lần so với cùng kỳ năm 2016 .

Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất tiêu thụ than đá của Việt Nam với hơn 5 triệu tấn, tăng 4% và chiếm tới 80% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước.

Hà Nhi